KÝ ỨC SÂN TRƯỜNG

.
.

   Cuộc đời học sinh, kỷ niệm sân trường mãi mãi nằm trong ký ức và theo ta suốt năm tháng của cuộc đời.
   Sân trường Đông Giang ghi bao dấu chân e ngại của buổi đầu ngày tựu trường sau khi các học sinh vừa thi đỗ, là nơi những hạt cát vàng theo mùa gió Bấc bay vào tập vở, bay vào lớp học, những hạt cát bay vào mắt thầy, mắt trò đỏ hoe khi chứng kiến cảnh đổ nát của ngôi trường mà cơn bão Hester vừa đi qua …
   Cái nắng ban trưa đổ xuống mặt cát sân trường nóng ran, hơi nóng hừng hực bốc lên mà nhìn xa xa long lanh như bóng ma trơi, hàng cây bạc hà được học sinh các lớp vun trồng lớn lên từng ngày cũng không đủ sức tỏa bóng mát cho sân trường…
   Sân trường là chứng nhân của các bước chân đi nhịp đều theo tiếng trống của buổi tập diễu hành mà thầy và trò đã khổ luyện để mang về bao chiến thắng cho trường. Sân trường cũng là chứng nhân bao khuôn mặt của ai đó đỏ gay khi trao vội lá thư tình đơn phương cho cô bạn gái cùng lớp …
   Sân trường in dấu khi cả lớp bị phạt ngồi dưới trụ cờ hàng giờ trong nghi án đốt xe Gobel thầy Nguyễn Vân và chỉ có sân trường mới biết được cái bí mật mà đề thi kỳ thi học kỳ (đệ nhất lục cá nguyệt) của lớp bị lộ qua tờ carbon mà thầy dùng để đánh máy đã vứt trong sọt rác trước cửa văn phòng …
   Sân trường chứng kiến bao nỗi buồn kể cả những giọt nước mắt trong những buổi chia tay thầy chia tay bạn, chia tay trường mà bao năm gắn bó …
   Sân trường mới thấu hiểu từng bước chân lặng lẽ của bao cựu học sinh phương xa nay về thăm trường mà lòng bồi hồi nhớ về thầy cô bạn bè bây chừ ở nơi đâu…
   Đêm đã khuya, vừa nhắm mắt bỗng thoáng nghe ca khúc:
“Sân trường còn lại hai đứa, cầm tay nhau nói nhiều cũng buồn…” 
(Thương ca mùa hạ)
 
Tăng Nhường – K6
By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

BẠN TÔI ĐÃ NÓI DỐI MẸ

      Nghe tin Hoàng ở bênh viện về nhà gần 1 tháng nay nhưng tôi chưa có dịp đến thăm, chỉ nhắn tin cho Lan để hỏi thăm sức khỏe của Hoàng. Nguyễn Xuân Hoàng chs Đông Giang K8 là chồng của Nguyễn Thị Lan chs K7, Hoàng và Lan vừa là bạn vừa là những đứa em của tôi, lúc nào Lan và Hoàng cũng gọi tôi là anh- chắc do tôi học trên 2 em 1, 2 lớp ngày xưa học chung trường Đông Giang-
      Tối nay thứ Bảy cuối tuần tôi đến thăm Hoàng (nhà Hoàng – Lan trên đường Ngô Quyền, Sơn Trà Đà Nẵng) nghe tin Hoàng đã nhập lại bệnh viên Ung bướu cách đây 3 hôm, tình hình sức khỏe của Hoàng ở giai đoạn cuối.
Ba của Hoàng mất năm 2013, vừa giáp năm ngày mất của ba thì Nguyễn Xuân Sơn chs K9 ĐG -người em kế của Hoàng- Sơn bị tai nạn rồi qua đời ( khi Sơn đang là Tổng Cục phó Tổng Cục Thuế)
      Khi chúng tôi đến thăm Hoàng, được biết cách đây mấy hôm mẹ của Hoàng (năm nay trên 80 tuổi) được Thành – đứa em Út đưa đến thăm Hoàng-, sợ mẹ đau buồn vì mẹ chưa nguôi với cái chết của cha, tiếp đến cái mất mát đớn đau với Sơn đứa em của mình, nên hôm mẹ đến thăm có hỏi con khỏe không? Mặc dù rất yếu, yếu lắm nhưng Hoàng sợ mẹ buồn trả lời tiếng rõ tiếng không : CON KHỎE và đây là lời nói dối cuối cùng của Hoàng với mẹ. Hôm nay Hoàng nhập viện, bệnh đã di căn lên não đang nằm trong Khoa Chăm Sóc Giảm Nhẹ bệnh viện Ung Bướu ( chỉ giảm đau mà không còn điều trị). Hoàng lúc tỉnh lúc mê.
      Không biết bao giờ Hoàng sẽ được về lại nhà để gặp lại Đức Anh, Dương Tấn Cường và những thằng bạn ngày xưa học ở trường Đông Giang mà mấy hôm biết Hoàng bịnh đã thường xuyên đến nhà để đàn và hát động viện cho Hoàng vui.
Với tất cả những tình cảm của người bạn đồng môn ĐG-HHT, với tình cảm bạn học của Hoàng và Lan (chs K7 & K8) chúng ta hãy chia sẻ bằng những tình cảm yêu thương đối với bạn của mình trước khi bạn đi xa. Những lời động viên chia sẻ đối với Hoàng những giờ phút nầy là vô cùng quí báu, chúng tôi sẽ xin tập hợp những chia sẻ của quí anh chị để gửi cho Hoàng kịp đọc được trước khi vĩnh viễn đi về một nơi xa xăm, hơn nữa những sẻ chia quí báu của anh chị là sự động viên cho người mẹ của Hoàng ( người mà Hoàng đã 1 lần nói dối cuối cùng) và để động viên cho Lan và các con của Hoàng bằng tất cả sự yêu thương.

TN K6

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

TÁC GIẢ NHỮNG BÀI HỌC THUỘC LÒNG

  .

Ông tên thật là Trần Huệ Sĩ, bút danh là Trần Huiền Ân, chúng tôi thường gọi Ông bằng thầy vì Người xưa có câu  “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (một chữ là thầy, na chữ cũng là thầy) trong khi hồi  tiểu học dưới nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa  chúng tôi đã học thuộc lòng nhiều bài thơ về tình yêu quê hương đất nước của Ông trong sách giáo khoa như bài  “ Chuyến Đi Dài”, “ Quê Em”, “ Thuyền Giấy”…mà cho đến bây chừ những bài Thơ đó đi theo suốt cuộc đời của các anh chị cựu học sinh,  như chị Nguyễn Thị Hải Hà ( Hoa Kỳ) : “Tôi không nhớ tôi bắt đầu được tiếp xúc với thơ từ lúc nào. Có lẽ từ khi tôi nghe những câu hò điệu hát ru em. Vào tiểu học tôi thích những bài thuộc lòng vì đó là những câu thơ có vần và giàu âm điệu. Bài học thuộc lòng tôi học từ năm lớp Ba đến giờ này tôi vẫn còn nhớ nguyên bài bắt đầu với những câu:

.
Khi khôn lớn rộng đường ra hải ngoại
Nếu có người muốn biết rõ quê em
Mở bản đồ em sẽ chỉ người xem
Đây nước Việt bốn ngàn năm yêu quí …( Bài QUÊ EM- Trần Huiền Ân)

(Trích trong Đọc Thơ Tình Miền Nam 1975 Gió o tuyển chọn )

     Hay anh Nguyễn Đăng Khoa ( Nha Trang) nói về Chuyến Đi Dài: “  Một tuyệt phẩm, viết bởi Nhà văn, Nhà thơ, Nhà nghiên cứu Văn hóa Dân gian người Phú Yên – Trần Huiền Ân – với tựa “Chuyến Đi Dài” mà trong nhiều năm theo đuổi, tìm hiểu tôi mới biết được chính xác tác giả. Theo thầy Trần Huiền Ân, bài thơ Chuyến Đi Dài viết năm 1960, được đăng trên Tuần báo Tuổi Xanh, năm 1961 đăng trên “Việt Ngữ Tân Thư, lớp Nhất” (hay Quốc Văn Toàn Thư…) – sách học thuộc lòng cho các cựu học sinh tiểu học trước 1975 – do Nhà Xuất bản Sống Mới phát hành. Đó chính là bài thứ 3. Và bài thơ chỉ in đến câu “Liền một dải… và chuyến đi lại tiếp”.

     Hãy cùng đọc thật chậm qua bài thơ khá dài để biết thêm tài hoa của ông khi viết về non nước Việt, như một chuyến lữ hành, dạo chơi qua từng góc phố, tỉnh thành, gom hết những cái tiêu biểu nhất của mỗi vùng miền, gói gọn trong những con chữ dịu dàng và tinh tế như thế nào!…”

    Sau nầy anh cũng xin phép Thầy được chấp bút đoạn từ Cầu Hiền Lương ra các tỉnh phía Bắc ( bút danh Phương Phương)

   Anh Hoàng Hà Vĩnh lạc ( Sydney) cũng thuộc nhiều Thơ của Thầy, mà như anh nói “Nhờ yêu thích hai bài này mà thời gian sau cho đến bây giờ tôi đã viết được những bài thơ, trường ca với các địa danh của đất nước Việt Nam mà tôi đã có dịp đi qua”

   Tuy nhiên không phải làm thơ là được bình yên, hôm gặp nhau Thầy  tâm sự với chúng tôi, năm 2007 Thầy đã bị Ban Tuyên Giáo Phú Yên mời lên “ làm khó” với bài thơ BÀI HÁT NGÀY VỀ mà Nhà văn Trần Nhã Thụy có lần đã nhắc đến chuyện nầy  trong  nhavantphcm.com.vn với cái tựa  “Làm thơ cũng là một nghề nguy hiểm”

    Thầy không thích bạn bè gọi Thầy là Nhà thơ, sau khi chia tay Thầy ra về, trong men say chúng tôi nghĩ miên man, không biết các Nhà thơ, Nhà văn ở xứ người có tài, có giỏi không nhưng chẳng thấy ai giới thiệu : Nhà Thơ- Giáo sư- Tiến sĩ Hoàng Quang…, hay Nhà Thơ – Thiếu tướng …

     Và trong các Hội đó có bao nhiêu người đã “ ngồi nhầm lớp”…

 TN K6

11035744_10202929345474558_8386270025289976742_n

Thầy Trần Huiền Ân

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

CÂU CHUYỆN BÁC CAI TRƯỜNG NGUYỄN ĐIỂM VÀ THẦY HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐÔNG GIANG

.

Câu chuyện về bác Nguyễn Điểm – bác Cai trường – mà chúng tôi có dịp nghe được từ những người con của bác kể lại trong những ngày tang lễ của bác sau Tết, câu chuyện thể hiện sự kính trọng và lòng biết ơn của gia đình bác đối với thầy Lâm Sĩ Hồng (nguyên Hiệu trưởng trường Đông Giang từ năm 1963-1975), qua đó chúng tôi hiểu được cách hành xử đầy tính nhân văn của thầy Hiệu trưởng đối với bác lao công cai trường từ những ngày đầu làm cai trường đến ngày bác Điểm qua đời.

      Những năm 1960, 1961 bác Nguyễn Điểm từ quê Hòa Quí ra quận 3 (Sơn Trà bây chừ) để đi làm thợ hồ, công việc của bác chủ yếu làm xây dựng và nhận làm hòn non bộ cá cảnh cho các gia đình, chùa chiền. Ngày ấy việc đi lại của bác hết sức khó khăn, không xe đạp xe máy mà phải đi bộ từ quê ra, chỉ hơn 10 km nhưng đối với bác là đoạn đường quá xa xôi, do đó ban ngày làm xong việc bác tìm chỗ trú lại qua đêm để ngày mai tiếp tục công việc chứ ít khi về nhà. 

     Một lần đi làm ở Ngã 3 Hương Nho, bác thấy có ngôi trường ở An Hòa, An Hải Bắc mới xây, cửa ngỏ chưa có, ban đêm bác vào đó để ngủ, cứ thế đến một hôm thầy Hiệu trưởng đến rất sớm nhìn thấy bác còn đang nằm trên những bàn học để ngủ, thầy Hiệu trưởng không la mắng, không xua đuổi mà hỏi han hoàn cảnh của bác rồi Thầy đề nghị ban ngày bác đi làm, ban đêm về coi giữ ngôi trường và trường sẽ trả lương như một nhân viên bảo vệ, nói là ngôi trường nhưng thực ra mới 1 phòng học và con đường đất cát từ ngoài vào trường mà các học sinh đang làm dang dỡ.. (Lúc nầy bác Điểm mới biết tên thầy Hiệu trưởng của ngôi trường là thầy Lâm Sĩ Hồng, do cứ mỗi buổi sáng khi đến trường, thầy Hiệu trưởng trông thấy bàn ghế xê dịch như có người ngoài vào đây, thầy quyết định đến sớm để kiểm tra và phát hiện bác Điểm ngủ qua đêm tại đây)

      Cơn lụt năm Thìn (năm 1964) căn nhà bác ở quê bị lũ cuốn trôi, gia đình phải sơ tán, trước hoàn cảnh hết sức khó khăn của gia đình, bác Điểm xin thầy Hiệu trưởng và được thầy cho gia đình chái tạm mái tranh chừng mấy mét vuông phía sau trường để trú tạm.

      Lúc nầy gia đình bác Điểm có 3 người con, người con lớn tên Thúy cũng chỉ mới 12 tuổi, không được học hành nên thầy Hiệu trưởng đề nghị bác cho chị Thúy sang nhà Thầy ở đường Võ Tánh (đường Núi Thành bây chừ) vừa phụ giúp những việc lặt vặt trong nhà vừa cho chị Thúy ăn học.

     Năm 1967 khi trường Đông Giang và nay là Hoàng Hoa Thám  chuyển về An Hải, trường rộng lớn hơn  và thầy Hiệu Trưởng Lâm Sĩ Hồng nhận bác Điểm về làm cai trường, công việc hàng ngày của bác là quét dọn, mở và khóa các phòng học, ban đêm bảo vệ, từ đó bác không còn đi làm thợ xây dựng và làm hòn non bộ nữa, bác làm cai trường đến năm 1985, lúc nầy sức khỏe bác già yếu nên trường giải quyết cho bác nghỉ việc mà không được hưởng một chế độ nào cả.

    Sau năm 75 từ hải ngoại mỗi lần thầy Hiệu trưởng về nước, Thầy đều ghé thăm gia đình bác Nguyễn Điểm, ngoài ra mỗi dịp có người về thăm quê không nhiều thì ít Thầy đều gửi quà về tặng bác, tháng 8 năm 2014 thầy Lâm Sĩ Hồng có gửi tặng bác Điểm 200 USD chị Thúy con gái bác bị bệnh tâm thần 100 USD..  

      Vừa rồi nhận được tin bác Điểm qua đời Thầy viết thư cho chúng tôi ” Tết vừa rồi Thầy bận lu bu nên quên gửi quà tặng bác Điểm, hôm nay nghe tin bác mất Thầy ân hận vô cùng, Thầy nhờ các em đến viếng và thắp hương giúp Thầy”.

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

Cuối đời NHÌN LẠI của Thy Hảo TRƯƠNG DUY HY

DSC08821

Chúng tôi đã có lần giới thiệu về nhà Biên khảo Thy Hảo TRƯƠNG DUY HY, Ông là bạn và là đồng nghiệp trước đây với vợ chồng thầy Nguyễn Bang và cô Phong, Ông đã phát hành nhiều cuốn sách biên khảo: Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa, Ngũ Phụng Tề Phi và các danh xưng tôn quý khác của sĩ tử Quảng Nam. Trên đường đi tìm Tú Quỳ – Nhà thơ trào phúng Quảng Nam…

   Hôm nay nhân dịp đầu năm mới chúng tôi ghé thăm Ông, được biết Ông đang biên soạn cuốn Cuối đời NHÌN LẠI, dự kiến in thành 4 tập mỗi tâp 300 trang. Cuối đời NHÌN LẠI tập I gồm nhiều chương như: Đôi điều cảm nghĩ về Quảng nam trong lịch sử dân tộc; Quảng nam tỉnh phủ; Quảng Nam – Cái nôi khởi xướng Duy Tân hội và phong trào Đông Du; Hội thảo Khoa học – Tưởng niệm 80 năm ngày mất Phan Châu trinh ( 24.3.1926 – 24.3. 2006);…Tìm lại tác giả đích thực cho “ HỒ TRƯỜNG” vấn đề còn ở phía trước; Bài tham luận gửi đến buổi hội thảo khoa học nhân ngày tưởng niệm Phan Khôi tháng 10 năm 2014 tại Quảng Nam; “ Hát bội chớ tuồng chi”..

Trong chương Tưởng nhớ 80 năm ngày mất Phan Châu Trinh tại Hội trường Thống Nhất Tph HCM ông đã ghi lại những nội dung phát biểu của Ông: “Trong một cuốn sách có nhan đề PHAN CHÂU TRINH TOÀN TẬP ( 2 tâp) do các nhà sử học CHƯƠNG THÂU chủ biên cùng DƯƠNG TRUNG QUỐC và chị LÊ THỊ KINH biên soạn, Nxb Đà Nẵng ấn hành năm 2005 có đưa nhận xét sai lầm của nhà thơ TỐ HỮU đối với sự nghiệp của cụ Phan. Cụ thể, nguyên văn hai câu sau được trích trong một bài thơ TỐ HỮU:

“ Muôn dặm đường xa biết đến đâu

Phan Châu Trinh lạc lối trời âu…”

Ông phát biểu: Cụ PHAN CHÂU TRINH mà lạc lối trời âu à? Cụ cùng ông HCM, Phan Văn Trường, Khánh Ký ..tạo lập những hội đoàn Việt nam yêu nước, trực diện đấu tranh cho độc lập thống nhất đất nước ngay trên đất Pháp để phải chịu tù tội ở SANTE’,..Ông nói chính quý vị đầu ngành của sử học lại thiếu công bằng khi đưa lời nhận xét sai lầm này của TỐ HỮU vào sách mà ông tin tưởng nó sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến các thế hệ kế thừa chúng ta khi nhận xét về CON NGƯỜI VÀ TÀI ĐỨC CỦA CỤ PHAN CHÂU TRINH – MỘT ANH HÙNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỸ XX., Ông còn khẳng định Cụ Phan Châu Trinh quả thực không phải là “ NHÀ CẢI LƯƠNG”, “NHÀ CẢI CÁCH” mà Cụ Phan Châu Trinh là NHÀ CÁCH MẠNG TIỀN BỐI, LÀ NHÀ VĂN HÓA, NHÀ GIÁO DỤC, NHÀ ĐỔI MỚI của dân tộc Việt nam đầu thế kỹ XX.”

Hay trong MỘT NGHI VẤN QUA LỜI TỰ HỐI CỦA Lô Giang NGUYỄN VĂN MÃI trong vụ án chí sĩ TRẦN QUÝ CÁP 1908. Trong tư liệu ông có đề cập một bài mang tính “ tự hối” của NGUYỄN VĂN MẠI hiệu Tiểu Cao trong hồi ký “ LÔ GIANG TIỂU SỬ” ( NGUYÊN VĂN HỒI KÝ NẦY BẰNG CHỮ HÁN, do người con thứ 8 của ông là Nguyễn Hy Xước phụng dịch ra quốc văn, in roneo)

Ông viết “ khi Cụ Trần Quý Cáp đến Ninh Hòa thì cũng là lúc ông Phạm Ngọc Quát, Án sát Phú yên lảnh Bố chánh tỉnh Khánh Hòa cùng Nguyễn Văn Mại quyền chưởng Thuận Khánh tổng đốc quan phòng Ninh Hòa, sau đó là án sát , vì vậy vụ án cụ Trần, ông Mai đích thực là vị quan trực tiếp nhận trách nhiệm mà chính ông tự nhận vào mình..?

Ông viết: Theo chính sử, cụ Trần Quý Cáp thọ hình tại bãi sông Cạn, làng Phú Ân, phủ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa ngày 17-5 Mậu Thân ( 1908), sau khi Cụ Trần Quý Cáp thọ hình, để tưởng thưởng cho Phạm Ngọc Quát được chuẩn thăng Tuần Vũ Hà Tịnh, còn Nguyễn Văn Mại thăng chuẩn Bố Chánh. Theo Ông Trương Duy Hy khi trao đổi với Ông Phan Duy Nhân, cả hai ông đồng cảm nhận: Vụ án Trần Quý Cáp thực ra đã được bọn Nam triều bù nhìn và tay sai đắc lực của thực dân Pháp đã có chủ trương loại bỏ những chí sĩ yêu nước, những thành viên trong các phong trào Duy Tân nhưng chưa có bằng chứng cụ thể nên khi bắt được thủ bút của cụ Trần Quý Cáp xem như có bằng chứng Trần Quý Cáp đồng lõa với người cự sưu kháng thuế ở Quảng nam, chúng cần phải khử trước để đe dọa…nên bằng mọi thủ đoạn chúng phải thi hành càng gấp càng hiệu quả, vì thế mà đương thời được các cụ gọi đó là cái án “mạc tu hữu” ( chẳng cần có, không cần có chứng cứ cũng vẫn làm án)…”

Đọc Cuối đời NHÌN LẠI, đây là dịp Ông hệ thống lại những bài tham luận, những phát biểu của Ông trong các Hội thảo, cũng là dịp Ông ghi lại những tư liệu quí về lịch sử Quảng nam… giúp chúng ta dễ dàng nhận biết lịch sử của một số lĩnh vực : Học Vấn; Lập Thuyết ; Báo chí, nghiên cứu phê bình, dịch thuật, văn, thơ của Quảng Nam trong lịch sử dân tộc.

TN K6 

DSC08825

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

TRÍCH HỒI KÝ TRÊN ĐƯỜNG ĐI TÌM TÚ QUỲ & BÀI THƠ NGỰA TRẮNG (tt)

     Trên đường đi khảo cứu và biên soạn Thơ ca Tú Quỳ, thầy Trương Duy Hy gặp nhiều trắc trở, bị tù 4 năm vì tham gia Hội nhà thơ cùng với các ông Hà Kỳ Ngộ, Võ Bá Huân..( 1981) tại thành phố Đà Nẵng, đặc biệt với bài Thơ NGỰA TRẮNG của Tường Linh người bạn của thầy Trương Duy Hy lúc bấy giờ được cho là phản động…, toàn bộ tài liệu khảo cứu về Thơ Ca Tú Quỳ bị tịch thu mà cán bộ điều tra nói “có chi mà anh tha thiết thế ! Tôi đọc rồi, thấy cũng tầm thường…Tôi cũng là cháu chắt bên ngoại ông Tú Quỳ đây...” Sau khi ra tù thầy Trương Duy Hy tiếp tục khảo cứu và xuất bản cuốn sách Tú Quỳ Danh sĩ Quảng Nam năm 1993 mà sau nầy thành phố đặt tên đường Tú Quỳ, bài thơ Ngựa Trắng sau nầy được in trong Thơ Tường Linh – Tuyển tập do NXB Văn Học, Quý 3 năm 2011 phát hành..
      Vừa rồi chúng tôi có trích một đoạn trong Hồi Ký Trên đường đi tìm Tú Quỳ của thầy Trương Duy Hy NXB Văn Học 2012, hôm nay chúng tôi xin giới thiệu tiếp phần Tòa án  Nhân dân tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng tuyên phạt thầy Trương Duy Hy 4 năm tù vì tội tàng trữ, in ấn, lưu hành sách báo có nội dung phản cách mạng…

     Sự thật?! Đúng vậy, sự thật đó như sau:

     Thời điểm tôi quan hệ với nhóm thơ cũng là thời điểm tôi làm việc khẩn trương để “kiếm cơm”! Cụ thể và rõ ràng là hồi đó tôi đưa má tôi về để phụng dưỡng. Cứ mỗi sáng, 5 giờ tôi đã thức dậy lo vệ sinh cho má tôi, vì má tôi quá yếu, tuổi đã 84. Đứa gái lớn – Trương Bách Diệu Huyền- thường muốn dành việc làm này, song tôi gọi hết con tôi lại và dạy rằng: “Ba còn sức làm việc báo hiếu này, cứ để ba làm. Sau này khi ba má 100 tuổi, các con hãy lo cho ba má, và con các con cũng lại sẽ lo cho các con khi các con về già, đau yếu…”. Khoảng 7 giờ tôi phải có mặt để làm việc tại cơ sở văn phòng phẩm Trường Sơn (39 Thanh Sơn, Đà Nẵng). Tôi phụ trách ca máy xén kiêm luôn việc mài dao xén giấy. Tôi rất ham việc. Vì vậy, có một số khách hàng đưa dao mài, trả cho cơ sở 60đ/1 dao (cơ sở cho tôi hưởng 10đ/dao) nhưng khách thường nhét vào túi áo hoặc túi quần tôi thưởng riêng 50đ hoặc 100đ. Lý do rất đơn giản: tại Đà Nẵng có 3 nơi mài dao. Nơi nào họ cũng hẹn khách hàng ít nhất 3 ngày đến 1 tuần mới trả. Riêng cơ sở văn phòng phẩm Trường Sơn, tôi vui vẻ sốt sắng nhận dao là mài ngay. Họ chỉ chờ 20 phút đến nửa giờ là nhận lại dao, kịp mang về giải quyết việc làm cho số nhân công ngồi chờ mà vẫn phải trả lương trong ngày. Tôi tích cực làm việc này dù đôi lúc anh thủ trưởng Trần Ngọc Quán không bằng lòng và anh bảo tôi tiền khách cho thêm đó phải nộp lại cho thủ quỹ vì có cơ sở Trường Sơn khách mới cho!

     Thật ra tôi vì tự ái, không muốn ăn bám hoặc nhờ vả vợ con trong việc lo cho má tôi, tôi vui lòng nhận lấy sự vất vả cho riêng mình. Hồi đó tìm một việc làm đối với “diện” tôi rất khó.

     Trong những ca có mài dao thì sau khi mãn ca, khoảng 2 giờ 30 chiều tôi đến tiệm mỳ quảng ở đầu đường Trần Quý Cáp – Đống Đa mua 2 tô (15đ/tô) về cho 2 mẹ ăn và có lúc trao cho mỗi mẹ vài chục đồng tiêu vặt, có lúc tôi mua đậu hũ hoặc bánh nậm… Xong tôi lại ngồi vào đánh máy cho nhóm thơ, có khi tôi đánh máy đến 1, 2 giờ sáng mới nghỉ. Việc làm hàng ngày của tôi, người trong xóm ai cũng biết. Anh Thân Trọng Cưu – cán bộ kỹ sư nông nghiệp cùng gia đình ở sát vách nhà tôi là nhân chứng biết rõ mọi sinh hoạt hàng ngày của tôi.

     Bởi vậy tôi còn chút thì giờ nào để giao du với ai ngoài nhóm thơ? Mà đến với nhóm thơ, thì những bài thơ gọi là có “nội dung xấu” đố ai dám công bố! Tất cả những bài thơ tôi đánh máy đều đã được nhóm thông qua dưới sự chọn lọc của anh nhóm trưởng Trần Hưng Tiếu và cố vấn Võ Bá Huân.

     Nhiều lần đi cung, anh Trần Thanh Thảo cật vấn tôi rất căng: … anh có biết bài này…? bài kia…? của ai?… Thật tình tôi mù tịt! Nhưng đối với anh, tôi phải biết! Biết rõ! Anh dựa vào tam đoạn luận một cách đơn giản: “Anh chơi với nhóm thơ, tất anh phải trao đổi thơ, trao đổi thơ, tất anh phải biết thơ người khác. Do đó anh bảo anh không biết là ngoan cố”.

     Tôi  nhớ không nhầm, sáng 02.9.1985, tôi được đại úy Siêng cán bộ phụ trách kiên giam đưa tôi ra phòng cung để nghe và ký vào bản cáo trạng.

     Tại đây, một nữ cán bộ trao tôi bản cáo trạng đánh máy, bảo tôi:

– Anh hãy đọc thật kỹ bản cáo trạng này rồi ký vào…nếu có điều gì anh cho không đúng thì viết ở bên dưới, trước khi ký… tuần sau anh sẽ ra tòa….

     Cầm bản cáo trạng trên tay, tôi liếc thấy chữ đánh máy rất nhỏ và dày đặc cả 2 trang… tôi hồi hộp đọc… đọc rất chậm, rất kỹ, đọc đi đọc lại đến mấy lần… gần như thuộc lòng cả 4 chính điểm luận tội tôi.

     Bỗng một trong số cán bộ đã hỏi cung tôi – cán bộ hỏi cung cuối cùng- ghé đến. Anh hỏi:

– Đọc gì vậy anh Hy?

– Thưa anh, tôi đọc bản cáo trạng.

Anh tiến lại gần, liếc qua bản cáo trạng.

     Bỗng dưng tôi ứa nước mắt! Tôi vô tội! Đúng vậy, tôi tự xét và tôi biết tôi hơn bất cứ ai biết tôi – tôi vô tội thật- vậy mà khung án dành cho tôi từ 2 đến 12 năm!…

Tiếp tục đọc

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

NHÀ VĂN, NHÀ NGHIÊN CỨU: THY HẢO TRƯƠNG DUY HY



 tdh2

                                                 Thy Hảo TRƯƠNG DUY HY
                          NHÀ GIÁO, NHÀ VĂN, NHÀ SƯU TẦM BIÊN KHẢO ĐẶC THÙ
                                          CỦA QUÊ HƯƠNG  NGŨ PHỤNG TỂ PHI


               
         Sở dĩ chúng tôi đặt tiêu đề dài dòng như thế vi thầy Trương Duy Hy  có làm nghề giáo dạy nhiều trường khi vào đời (1958-1962), Thầy có sáng tác hồi ký (trước năm 1975 và bây giờ) nên Thầy là nhà văn và cuối cùng Thầy công bố gần 10 công trình sưu tầm biên khảo từ năm 1993 đến nay (20 năm) nên gọi Thầy là nhà sưu tầm biên khảo, đặc biệt chủ yếu sưu tầm biên khảo về các Danh nhân của quê hương Quảng Nam Đà Nẵng.

.
        Vừa qua, chúng tôi mang cuốn Chúa Tiên Nguyễn Hoàng của tác giả Hoàng Đình Hiếu đến biếu thầy Trương Duy Hy mà thầy Nguyễn Bang nhờ chuyển – thầy Trương Duy Hy trước đây là đồng nghiệp của thầy Bang mà có lần chúng tôi đã giới thiệu về thầy trên trang Đông Giang – Hoàng Hoa Thám với bài Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa , Ngũ Phụng tề phi và cácdanh xưng tôn quý khác của sĩ tử Quảng Nam.-

.
       Thầy Trương Duy Hy mặc dầu năm nay trên 82 tuổi, nhưng vẫn còn minh mẫn, bặt thiệp.
       Năm 1993 sau khi phu nhân Thầy qua đời, Thầy lấy bút hiệu Thy Hảo –Thy Hảo Trương Duy Hy – nhưng tên tuổi của thầy được biết đến ở miền Nam từ những năm 1972.

       Khi nhận được cuốn sách Chúa Tiên Nguyễn Hoàng Thầy rất vui vì ngoài một người bạn cũ (thầy Bang) ở xa quá lâu mà vẫn nhớ đến Thầy để tặng cuốn sách – lại là sách khảo cứu về lịch sử – nên Thầy rất ái mộ, biết ơn Thầy Hoàng Đình Hiếu, người đã dày công biên soạn và phát hành đến độc giả trong thời hiện tại, thời mà môn lịch sử các cấp ở học đường không còn coi là môn thi chình bắt buộc nữa ! Vì vậy Thầy cho rằng công sức của Thầy Hiếu, tương lai sách nầy sẽ là bửu vật vô giá khi ngành giáo dục phục hồi lại khoa  sử học dân tộc Việt, đối với các thế hệ kế thừa trong tương lai không xa.

         Khi thầy Hy đọc thoáng qua Lời bạt của Giáo sư Võ Hương An tức Võ Văn Dật, Thầy xúc động nhớ Giáo sư Dật cùng vợ là cô giáo Lệ từng động viên, từng giúp đỡ tinh thần để thầy hoàn chỉnh tác phẩm Tú Quỳ từ những năm 1974 thế kỷ trước, cũng như giúp đỡ vật chất khi vợ thầy qua đời năm 1993.

        Để tỏ lòng quý mến của mình, thầy gởi tặng thầy Bang, thầy Hiếu, Giáo sư Võ Văn Dật và chúng tôi mỗi vi một cuốn Trên đường đi tìm Tú Quỳ – Nhà thơ trào phúng Quảng Nam với lời trân trọng cám ơn.

.
       Từ năm 1993 sau khị phu nhân Thầy qua đời cho đến nay Thầy viết trên chục đầu sách sưu tầm biên khảo :Tú Quỳ – Danh sĩ Quảng Nam, Nxb Đá Nẵng,1993..Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa…Nxb Văn học, 2004. Tái bản Nxb Đà Nẵng,2008. Danh xưng tôn quý  của sĩ tử Quảng Nam, Nxb Văn học, 2004.Thơ văn Tú Quỳ. Nxb Văn hóa Thông tin,2008. Lược sử làng Minh Hương thành phố Hội An. GPXB/Sở Thông  tin và Truyền thống Quảng Nam,2009. Trên đường đi tìm Tú Quỳ- Nhà thơ trào phúng quảng nam. Nxb Văn học, 2012. Thơ ca Hàn Giang Tử, Nxb Văn học,2013. Khoa Bảng Quảng Nam (viết chung với Phạm Ngô Minh) Nxb Đà Nẵng,1995. Tái bản Nxb Văn nghệ,2007. Hát Bả Trạo – Hò đưa linh (viết chung với Trương Đình Quang (Nxb VHDT, 2011). Đà Nẵng Đất và Người (viết chung với Hoàng Hương Việt), Nxb Đà Nẵng 2012.

.
       Trong từng ấy sách của Thầy xuất bản, có hai cuốn Tú QuỳNữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa được ghi nhận trong 8 bộ từ điển của các tự điển gia Nguyễn Q Thắng – Nguyễn Bá Thế; Lại Nguyên Ân – Bùi Văn Trọng Cường; Đỗ Dức Hiểu – Nguyễn Huệ Chi –Phùng Văn Tửu – Trần Hữu Tá; Nguyễn Văn Mạnh – Bùi Duy Tân – Nguyễn Như ý ; Vũ Tuấn Anh – Bích Thu… cả trong Kỷ Lục Việt Nam Tập 3 … Nhưng đặc biệt hơn cả là Hội Đông Nhân Dân thành phố Đà Nẵng đã chọn và sau khi thẩm cứu, qua nhiều lần xét duyệt, Hội Đồng đã đưa tên Tú QuỳHuỳnh Thị Bảo Hòa đặt cho hai con đường tại Quận Liên Chiểu Đà Nẵng.

DSCN7847
 

       Đây quả là sự kiện chưa từng có xảy ra trong lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu, biên khảo văn học trong cả nước ta từ Bắc chí Nam, hình như cho đến nay mới chỉ có duy nhất thầy Trương Duy Hy có hai công trình biên khảo và cả hai được chính quyền chọn đặt tên đường như trên, đem lại niềm vui và lớn hơn là niềm tự hào của nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng chúng ta. Công lao nầy của thầy rất xứng đáng được các cơ quan Văn sử học và địa phương quan tâm giúp đỡ phương tiện để Thầy tiếp tục phổ biến thêm một số công trình mà bấy lâu nay thầy không thực hiện được vì không có kinh phí và cũng là dịp các cơ quan chức năng thể hiện sự quan tâm khuyến khích các thế hệ trẻ ngày nay và mai sau theo gót lớp người đi trước, bảo tồn và phát huy sự nghiệp vinh quang của cha ông nối tiếp lịch sử không ngừng.

.
       Nhân dịp nầy thầy Hy có cho chúng tôi xem thành quả của hai khóa luận cử nhân văn tại Đaị Học Đà Nẵng với hai đề tài khác nhau “Nét đặc sắc thơ văn Tú Quỳ” của sinh viên Huỳnh Thị Kim Phượng (khóa 2007-2011) do Giảng viên hướng dẫn, PGS.TS Nguyễn Phong Nam và “ Giáo dục Nho học ở Quảng Nam dưới thời triều Nguyễn (1802-1919) của sinh viên Bùi Quang Chuyên (khóa 2007-2011) do Giảng viên hướng dẫn Khoa học : Th.S Nguyễn Hữu Quang và một luận văn thạc sĩ Khoa học Xã hội và Nhân văn với đề tài “ Đặc điểm thơ văn Tú Quỳ “ của sinh viên Huỳnh Thị Kim Phượng (2013) do PGS.TS Nguyễn Phong Nam hướng dẫn. Việc nầy khiến thầy Hy mừng đến nghẹn ngào vì thầy cũng đã tận tình giúp đỡ cho những sinh viên trên khi đến tìm tài liệu, xin ý kiến thầy- người bỏ công cả đời đi tìm thơ văn Tú Quỳ-.

       Hiện nay Thầy bị một số bệnh người già, huyết áp cao, tiền đình bất ổn và chân trái tê nhức do hậu quả của những tháng ngày bất hạnh, gian nan nên đi lại khó khăn.Thầy nói với chúng tôi Thầy không cần danh, không cần làm giàu cho bản thân và cho con cái, vì con cái của Thầy đều có cuộc sống ổn định, Thầy chỉ cần có một sồ kinh phí để tiếp tục chấn chỉnh các bản thảo đã hoàn thành hoặc đang dang dỡ để kịp phổ biến, vì quỹ thời gian của Thầy chẳng còn bao nhiêu. Hiện nay ngoài việc nghiên cứu biên soạn ngày nào Thầy cũng phải đến bệnh viện để chữa bệnh.

       Trong lúc trao đổi về in ấn, Thầy có cho chúng tôi xem một số tư liệu gồm tác phẩm và những bài báo rời, khá dồi dào, do những bạn văn chí thiết của Thầy như nhà nghiên cứu Phạm Ngô Minh… Thầy đang sắp xếp lại để thực hiện thành một tác phẩm với nhan đề  “Tổng tập thơ chữ Hán, văn, biên khảo, kịch bản hát bội, ký và một số sáng tác khác thuộc dạng trả lời phỏng vấn về vấn đề thời sự quan hệ đến nữ giới lúc bấy giờ như “Vì sao tôi cắt tóc” hoặc bài thuyết trình  “Nhân cách của người phụ nữ” bà đọc tại Chợ phiên mở tại Tourane (Đà Nẵng) ngày 31-12-1933 của Nũ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa  làm thành tổng tập nên sách có thể dày khoảng hơn 300 trang).Thầy hồ hỡi nói : Nếu bạn đọc đọc được “Nữ sĩ Huynh Thị Bảo Hòa toàn tập” nầy sẽ không ai còn có thể ngộ nhận  Huỳnh Thị Bào Hòa là một nữ thiên tài trong nữ giới với tinh thần thiết tha yêu nước mà chính bà đã trải nghiệm, đặc biệt, cả đời bà chưa hề qua một trường lớp nào kể cả Hán học, Tây học và Quốc ngữ mà bà chỉ tự học qua thân phụ (dạy chữ Hán lúc bà còn nhỏ), ngoài ra bà tự học là chính, vậy mà chỉ trong vòng 10 năm bà viết được mấy thể loại văn chương kể trên, thật là một phụ nữ phi thường vậy ! Tâm sự với chúng tôi Thầy vẫn lo, vì không có tiền nên Thầy chỉ biết ước gì có một tổ chức nào, cá nhân nào là Mạnh Thường Quân  hỗ trợ giúp cho Thầy in ấn những tác phẩm nầy.

       Trong những ngày tới, chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu một số bài trên trang Đông Giang – Hoàng Hoa Thám Người đòi lại tên cho Tú Quỳ và bài chút tình với quê hương để chúng ta có điều kiện hiểu thêm  nét độc đáo về tính kiên trì, khiêm tốn, chịu đựng mọi gian nguy khốn khổ, quyết đạt cho được thành công, và thực sự đã thành công của nhà nghiên cứu Thy Hảo Trương Duy Hy, người con đáng quý của quê hương Quảng Nam Đà Nẵng ngày nay. Mời quý Thầy, Cô, anh chị đón xem..


                                                                                                Tháng 4.2014

                                                                                                      TN K6

                                                                                               


By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

CHÚA TIÊN NGUYỄN HOÀNG

Thầy giáo- Nhà Sử học Hoàng Đình Hiếu

Trước đây chúng tôi vinh dự được thầy Hoàng Đình Hiếu gửi tặng cuốn sách Sông Gianh – Đàng Trong- Giáo Hạt Quảng Bình, thầy viết chung với Ông Nguyễn Thế Hùng ( Ông Nguyễn Thế Hùng hiện đã qúa cố ) dịp nầy chúng tôi đã có 1 entry viết về Thầy“ Hãy cho tôi sống lại những ngày xưa thânái” (hoặc TẠI ĐÂY)

Hôm nay nhân dịp chị Phạm Thu Nhi về thăm mẹ, Thầy có nhờ chị mang cuốn sách Chúa Tiên Nguyễn Hoàng do Thầy là tác giả gửi tặng chúng tôi.

Cuốn sách được xuất bản nhân dịp 400 năm ngày giỗ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, nhà sử học Hoàng Đình Hiếu xuất bản cuốn biên khảo “Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, Sáng Tổ Vương Quốc Nhà Nguyễn”. Một cuốn biên khảo giá trị, được LM Nguyễn Phương, Nguyên Giáo sư Sử Học Viện Đại Học Huế đánh gía cao từ khi còn là bản thảo, và xin trích lời bạt của nhà sử học Võ Văn Dật ( bút hiệu Võ Hương An)
“Với tác phẩm Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, tác giả Hoàng Đình Hiếu đã giúp bổ sung những thiếu sót của người cầm bút trong quá khứ, giúp sửa lại những cái nhìn thiên lệch đã có, xoá đi sự đánh giá thiếu công bình đã thể hiện, để làm hiển hiện lên một huân nghiệp, một tài năng, một công trạng to lớn của Nguyễn Hoàng đối với tổ quốc. Tác giả Hoàng Đình Hiếu đã chọn một đề tài tương đối khô khan, ít tài liệu, nhưng với mục đích: Cái gì của César trả lại cho César. Bằng một phương pháp làm việc đầy bài bản của một người được đào tạo chính qui về sử học, bằng một văn phong trong sáng, đôi lúc pha chút dí dỏm nhẹ nhàng, tác giả Hoàng Đình Hiếu đã đặt vào tay độc giả tác phẩm Chúa Tiên Nguyễn Hoàng một cách trang trọng và thật đáng tin cậy.”
Sách dày 424 trang, gồm 10 chương, khổ 13.7 cm x 19 cm do Tủ sách Sông Gianh- Quê Hương Bọ Mạ xuất bản.
Cuốn sách giúp chúng ta hiểu rõ lịch sử mở mang bờ cõi khi Nguyễn Hoàng đến trấn nhậm vùng đất Thuận – Quảng với chức vụ khiêm tốn là một quan viên Trấn Thủ, nhưng Nguyễn Hoàng đã biết nhìn xa trông rộng để xây dựng một giang sơn mới cho dòng họ của mình, đồng thời mở rộng biên cương cho tổ quốc mà ông đang phục vụ và yêu mến. Nguyễn Hoàng đã mở đầu một giai đoạn Nam tiến mới trong lịch sử dựng nước của Việt nam mà con cháu ông đã liên tục nối chí mở rộng về phía Nam. Như Thầy đã viết ” Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ cho chúng ta thấy cần thiết phải biết rõ hơn về sự nghiệp trong vai trò của một người lãnh đạo, đã tiên phong đặt những bước khai phá về chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, tôn giáo cũng như an ninh lãnh thổ, xứng đáng được nhân dân yêu mến và kính trọng khi tôn xưng Nguyễn Hoàng là vị Chúa tiên“.
Thế nhưng cho đến ngày nay đáng buồn cho một số người chưa hiểu biết về lịch sử, chưa hiểu biết về Chúa Tiên Nguyễn Hoàng có công lao với đất nước…Nên sau 1975 người ta xóa đi những gì ghi công ơn đối với Ông như trường Trung Học Nguyễn Hoàng ở Quảng Trị ( một ngôi trường có tiếng tăm ở Quảng Trị thành lập từ năm 1953-1954 mang tên Ông), người ta xóa đi tên Ông để đặt lại tên trường TH Thị Xã Quảng Trị!?
oOo

Có thể CHS chúng ta, những người từng là học trò của thầy Hoàng Đình Hiếu nhưng chưa biết hết về Thầy, nhân dịp nầy chúng tôi xin được giới thiệu về Thầy :
Thầy tên thật: Hoàng Đình Hiếu
Sinh quán Hòa Ninh, Quảng Trạch, Quảng Bình
Bút hiệu Nghiêm Đức Thảo
Tốt nghiệp Cử Nhân Văn Khoa Giáo Khoa Sử Học, Đại Học Văn Khoa Huế năm 1966.Trình Luận án Cao Học Sử tháng 3.1975 tại Viện Đại Học Huế do cố Giáo sư Dương Đình Khôi bảo trợ.
Dạy học tại Đà Nẵng từ năm 1965-1975.
Tại các trường Trung học Sao Mai, Trung học Đông Giang, Nũ Trung học Hồng Đức, trường Kỹ thuật Đà Nẵng, Nữ trung học Thánh Tâm
Đã cộng tác với các Tạp chí Định Hướng( Paris).Tiếng Sông Hương(Dallas).Thế Kỷ( CA). Xưa và Nay (Saigon)…Đã xuất bản ( Sông Giang. Đàng Trong. Giáo Hạt Quảng Bình năm 2004 ( viết chung với thân hữu đã quá cô Nguyễn Thế Hùng)
Chủ biên các Tuyển Tập: Quê Hương Bọ Mạ I (1994). Tuyển Tập II (1999). Gia Đình Thánh Tự Hải Ngoại ( 2007). Cộng tác với Hội Vinh Băc California trong: Tuyển Tập 25 năm ( 1980-2005). Tuyển Tập 30 năm (1980-2010). Cộng tác và sinh hoạt với cố Linh mục Trần Cao Tường trong Website Văn Hóa Dũng Lạc (dunglac.net).

Chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu Phần Lời Nói Đầu cuốn sách để Thầy Cô, anh chị biết thêm về quá trình hình thành cuốn sách từ tập bản thảo luận án Cao học sử từ trước năm 1975 mà các con Thầy đã lưu giữ cho đến tháng 4 năm 1991 mới có dịp mang qua cho Thầy ở Mỹ trong chuyến đoàn tụ. Mời Thầy Cô và anh chị đón xem.

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

NGƯỜI GIEO TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG QUA NHỮNG BÀI HỌC THUỘC LÒNG .

 

Tôi vinh dự được quen biết thầy như một cái duyên qua một câu chuyện của một người yêu thơ – anh Nguyễn Đăng Khoa – đi tìm tác giả bài thơ bài học thuộc lòng Chuyến Đi Dài, tôi cũng xin cảm ơn và rất thán phục trí nhớ của người bạn đồng môn – chị Nguyễn Linh Phượng – đã comment dưới entry” Đi tìm tác giả bài thơ Chuyến Đi Dài” trên trang Đông Giang: Theo trí nhớ của thời còn học Tiểu học (Sau hơn 40 năm, trí nhớ không biết có rơi rớt hay không), thì bài thơ này LP được học trong quyển QUỐC VĂN TOÀN THƯ lớp Nhất. Tác giả là Trần Huyền Ân (nhà thơ này trước 1975 cũng khá nổi tiếng)…
Từ những thông tin trên, chúng tôi mừng lắm và cứ search tìm, nhưng chỉ có tác giả Trần Huyền Ân hoặc Trần Huiền Ân sau 75 làm nghề tự do, ông tên thật là Trần Sĩ Huệ hiện ở 20/3 Chu Mạnh Trinh, Tp Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên có nhiều tác phẩm như Tiếng Việt Giàu đẹp: Ăn uống nói cười & khóc và các tập Thơ: Thuyền giấy, Năm năm dòng sông thơ, Lời trên lá, Rừng cao.
– Truyện: Tiếng hát nhân ngư, Một nửa chân trời, Mùa hè quê ngoại, Khói của ngày xưa.
Tìm mãi cũng không thấy có tài liệu nào là Trần Huyền Ân hay Trần Huiền Ân là tác giả bài thơ “Chuyến đi dài”, sáng hôm sau khi đến chỗ làm, việc đầu tiên chúng tôi liên lạc ngay với tổng đài 1080 ở Phú yên qua mã vùng 057 để xin số điện thoại ông Trần Sĩ Huệ, cô NV tổng đài cho xin số điện thoại nhà 057.382…, vừa hồi họp vừa vui mừng nhưng chúng tôi cũng xin hỏi lại lần nữa có phải ông Sĩ Huệ ở 20/3 không cô, cô nhân viên thưa đúng. Chúng tôi điện số điện thoại mà cô NV tổng đài vừa cho, gặp một phụ nữ nói giọng còn khá trẻ,
– Thưa chị, chị vui lòng cho chúng tôi gặp anh Sĩ Huệ,
– Anh Huệ vừa đi cắt tóc.
– Xin lỗi chị, anh Huệ có phải là tác giả bài thơ Chuyến Đi Dài
– Đúng là bài thơ của “nhà tôi”, bài nầy lâu lắm rồi, anh Vũ Dzũng bạn của anh Huệ có chấp bút viết tiếp đoạn từ Hiền Lương trở ra phía Bắc, số di động của anh Huệ 0935…
Chúng tôi không dám điện vì ngại anh đang cắt tóc, canh chờ thời gian anh cắt tóc xong chúng tôi điện cho anh, giọng anh rất trẻ và như chúng tôi đã nói có lẽ do một phần bài học thuộc lòng Chuyến Đi Dài của anh làm chúng tôi luôn hình dung anh vẫn trai trẻ :
“ Biết bao giờ cho thỏa được lòng trai
Chân bé quá, không mang hài vạn dặm..”
Tôi xin phép được gọi anh và xưng em từ buổi sáng hôm đó. Sau nầy được biết về anh: ” 3 tác phẩm đầu tay của tôi đều đăng ở tuần báo Văn nghệ Tiền phong năm 1957. Nhận được bài của tôi họ nhắn trên hộp thư là sẽ đăng và đề nghị gửi tiếp. Khi đã có 5-6 truyện họ đăng liên tiếp trong 5-6 tuần, nhờ vậy tạo được một ấn tượng, độc giả biết đến mình nhanh hơn. Sau này cộng tác với tạp chí Bách Khoa, tôi quen được nhiều bạn văn nghệ, kể cả những người lớn tuổi và có uy tín. Hồi ấy tôi thuộc loại trẻ, cả tuổi đời lẫn tuổi văn. Năm 1960 (23 tuổi), sau 3 năm dạy học tôi cộng tác với các nhà giáo viết phần học thuộc lòng cho sách giáo khoa 5 lớp bậc tiểu học: Quốc văn toàn tập, Việt ngữ tân thư. Năm 1963 tham gia soạn bộ Tân Việt văn. Nhiều người cứ nghĩ phải “già” mới soạn được sách giáo khoa, tôi cho là không đúng…
Mặc dù chưa được anh trực tiếp giảng dạy, nhưng biết anh là tác giả 80% trong sách giáo khoa Tân Việt Văn lớp Nhì, lớp Nhất mà hồi xưa chúng tôi đều đã được học.. từ đó chúng tôi xin phép được gọi bằng Thầy, một xưng hô đúng nghĩa.

Thầy có kể cho chúng tôi nghe về bài học thuộc lòng Quê Em của thầy mà tình cờ thầy gặp lại trong Thơ Tình Miền Nam 1975 gio-o.com và chị Nguyễn Thị Hải Hà hiện định cư tại New Jersey, Hoa Kỳ có viết trong bài “Đọc Thơ Tình miền Nam 1975 do Gió o tuyển chọn” với phần mở đầu :
“Tôi không nhớ tôi bắt đầu được tiếp xúc với thơ từ lúc nào. Có lẽ từ khi tôi nghe những câu hò điệu hát ru em. Vào tiểu học tôi thích những bài thuộc lòng vì đó là những câu thơ có vần và giàu âm điệu. Bài học thuộc lòng tôi học từ năm lớp Ba đến giờ này tôi vẫn còn nhớ nguyên bài bắt đầu với những câu:
Khi khôn lớn rộng đường ra hải ngoại
Nếu có người muốn biết rõ quê em
Mở bản đồ em sẽ chỉ người xem
Đây nước Việt bốn ngàn năm yêu quí …”

Sau khi bài Đọc Thơ Tình Miền Nam 1975 do Gió o tuyển chọn đăng lên Gió O, thầy Trần Huiền Ân liên lạc với Gió O, cho biết bài học thuộc lòng này là tác phẩm của thầy in trên Tân Việt Văn (1964).
Nhân dịp nầy thầy xin chép lại bài thơ mà theo thầy là theo trí nhớ, tựa đề bài thơ này là Quê Em:
Khi khôn lớn rộng đường ra hải ngoại
Nếu có người muốn biết rõ quê em
Mở bản đồ em sẽ chỉ người xem
Đây nước Việt bốn ngàn năm yêu quí
Quê em có núi rừng nung chính khí
Ngọn Hoàng Liên chót vót đội trời xanh
Dãy Trường Sơn như một bức liên thành
Chân trải rộng miền cao nguyên màu mỡ
Quê em có hai cánh đồng vạn thuở
Vẫn còn xanh thắm thiết Bắc Nam Trung
Dâng lúa ngô nuôi nòi giống oai hùng
Mỗi trang sử ghi một lần thắng lợi
Quê em có ba dòng sông chờ đợi
Hòa niềm vui trong lòng mẹ biển bao la
Bùn Cửu Long Giang, đất đỏ Nhị Hà
Pha trộn nước dòng sông Hương trong suốt
Quê em đấy dáng hình tuy gầy guộc
Nhưng biết bao nhiêu cảnh trí hữu tình
Để ai qua cũng cảm thấy lòng mình
Quyến luyến mãi và hẹn ngày trở lại.
(Tác giả Trần Huiền Ân)

( Do không có link dẫn mà phải vào trong gio-o.com để tìm, chúng tôi xin được đăng lại bài Đọc Thơ Tình Miền nam 1975 do Gió O tuyển chọn dưới đây)
Chúng tôi có hỏi thầy về những bài thuộc lòng khác, thầy nói: Những bài thơ trong sách giáo khoa ngày trước rất tiếc không còn, năm ấy thầy đã không lưu lại. Cũng từ khi biết thầy là Hội Viên Hội Văn nghệ dân gian VN, anh Võ văn Chương một cựu học sinh Đông Giang đang ở Hoa kỳ có gửi thư cho thầy muốn hỏi về một số bài vè ” Ba tôi vốn là dân ghe bầu, ngày xưa ghe bầu của ngư dân đi vùng biển không có bản đồ hay la bàn mà họ đặt ra bài vè từ Móng Cái đến Cà Mau. Họ đến đâu đọc vài câu vè là người thủy thủ biết vùng này là vùng nào. Tôi còn nhớ mấy người thủy thủ cho bà tôi đọc vè rất hay”, thầy cho anh biết đây là bài Vè Các Lái còn gọi là Hò các lái, Hò thủy trình thật ra là một bản tổng kết hải trình của các ghe bầu theo tuyến Bắc- Nam và ngược lại, như:

Ghe bầu đã qua tỉnh Phú Yên và bắt đầu đi vào vùng biển tỉnh Khánh Hòa :
Đầu ghềnh mũi NẬY de ra
Qua hai mũi ấy, đó là Ô RÔ
Mũi NẬY có đá bia xinh
Tạc để lưu truyền nối nghiệp Hùng Vương
Ô RÔ núi tấn bốn phương… ( Ô Rô là Vũng Rô)
Vừa nồm vừa bấc biết xô phía nào
Hòn NƯA không thấp không cao
Ngước mắt trông vào bãi VÕ sóng ngang..

Hôm nay chúng tôi cũng vừa nhận được tập thơ Rừng Cao mà thầy gửi tặng qua đường bưu điện. Theo Việt Báo tên và bút danh của Thầy ghép lại thành Ân Huệ, nhắc “kẻ sĩ” nhớ ơn cuộc đời, chúng tôi mời Thầy có dịp ghé Đà Nẵng, thầy tâm sự lâu rồi thầy không đi Đà nẵng, Thầy có mấy người bạn văn nghệ và nhà giáo ở Đà Nẵng (Ngọc Mân – ba của nhà văn Nhật Ánh-, Phạm Ngọc Lư), Tam Kỳ (Huỳnh Hoan, Sơn Nhân), Thăng Bình (Xuân Tùng), Nha Trang (Trần Văn Kim, Ngô Văn Ban), một số anh em Quảng nay ở SaiGon (Tường Linh, Phan Đắc Lữ) và nước ngoài (Luân Hoán v.v…) , thầy cũng kể “Mấy ngày nay qua chuyện văn thơ, rất vui, hôm 12/12 ngày kỉ niệm hàng năm của thầy và Vũ Dzũng ( anh Vũ Dzũng hiện công tác tại Nhà Xuất Bản Hội Nhà văn tại Saigon), thầy có thư cho anh Vũ Dzũng về việc này, anh Dzũng cũng vui lắm”.
Qua email thầy cũng gởi lời thăm đến thầy cô và anh chị cựu học sinh trường Đông Giang, các bằng hữu đã quan tâm đến bài “Chuyến đi dài”, như các anh chị của anh Nguyễn Đăng Khoa, chị Linh Phượng…
Hẹn với lòng mình có dịp chúng tôi cùng anh Nguyễn Đăng Khoa ( ở Nha Trang ) được một lần ghé thăm thầy tại quê hương Tuy Hòa.

TN K6

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

Thầy TRẦN HUIỀN ÂN tác giả bài thơ CHUYẾN ĐI DÀI

.
.

Một ngày mùa đông 2013, chúng tôi nhận được email của anh Nguyễn Đăng Khoa (Johnny Nguyen K) anh muốn tìm tác giả bài Chuyến Đi Dài qua bài : “Cho tôi được viết về thầy cô, về bạn bè và tuổi thơ tôi…” của chị Nguyễn Linh Phượng đăng trên Đặc san kỷ niệm 50 năm thành lập trường Đông Giang – Hoàng Hoa Thám. Theo anh bài thơ Chuyến Đi Dài cũng là bài học thuộc lòng trong sách Quốc văn Toàn Thư lớp Nhất trước năm 75 mà anh luôn tìm kiếm nhưng chưa biết tác giả là ai.

Sau khi có thông tin về tác giả từ chị Linh Phượng chúng tôi đã liên lạc được với gia đình anh Trần Huiền Ân (thay vì tác giả Lê Bình Phương hay Trần Huyền Ân mà các anh chị đã nhớ) anh Trần Huiền Ân tên thật Trần Sĩ Huệ sinh ngày 15 tháng 7 năm 1937, trên giấy tờ ghi ngày 23-12-1938. Quê quán Làng Vân Hòa tổng Sơn Xuân, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

Mặc dù anh hơn chúng tôi 20 tuổi nhưng chúng tôi xin phép được xưng anh bởi lẽ qua điện thoại giọng anh vẫn còn trẻ lắm, hơn nữa có lẽ bài học thuộc lòng Chuyến Đi Dài của anh làm chúng tôi luôn hình dung anh vẫn trai trẻ :
“ Biết bao giờ cho thỏa được lòng trai
Chân bé quá, không mang hài vạn dặm..”

Gia đình anh hiện cư trú tại 20/3 Chu Mạnh Trinh, Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
*Hiện anh là Hội viên Hội Văn Nghệ Dân Gian VN, Hội viên Hội Nhà Báo VN, Hội Viện Hội Khoa Học Lịch Sử VN.
*Từ năm 1957-1975: Dạy học, sáng tác thơ
*Từ năm 1975 đến nay: Sáng tác thơ văn, nghiên cứu văn học dân gian và lịch sử.
Trong 2 tập thơ trước 1975: Thuyền Giấy (thơ,1967) và Năm Dòng Sông (thơ,1973)
Sau 75 anh sáng tác rất nhiều trong đó có Tuyển truyện rất hay Mùa Hè Quê Ngoại 2002 dành cho thiếu nhi.

Anh cho biết bài thơ Chuyến Đi Dài của anh viết đến đoạn Hiền Lương và dừng lại thì người bạn thân của anh là Yên Hà – bút danh của anh Vũ Dzũng – anh Vũ Dzũng người Bắc viết tiếp đoạn sau mà theo anh Vũ Dzũng là cho đủ Chuyến Đi Dài chứ không dừng lại ở sông Bến Hải, theo anh Trần Huiền Ân bài thơ Chuyến Đi Dài viết năm 1960 được đăng trên Tuần báo Tuổi Xanh, năm 1961 đăng trên Việt Ngữ Tân Thư do Nhà Xuất bản Sống Mới phát hành và chỉ in đến …và chuyến đi lại tiếp (như vậy bài thơ được đăng báo khi anh mới 23 tuổi).

Cũng theo tác giả Trần Huiền Ân, bài thơ anh viết mỗi tỉnh thành chỉ giới hạn 1 câu, vài chỗ chỉ có 2 câu nên ngắn và không đầy đủ lắm nhưng riêng anh Vũ Dzũng viết tiếp phần sau không hạn chế theo địa dư hành chánh nên thoải mái hơn.

Chúng tôi xin được đăng bản gốc của bài thơ CHUYẾN ĐI DÀI do anh gửi tặng chúng tôi:

*Tuổi niên thiếu vốn giàu mơ lắm ước
Tôi đã nuôi trong trí chuyến đi dài
Biết bao giờ cho thỏa được lòng trai
Chân bé quá, không mang hài vạn dặm
Để ngày tháng vơi đôi phần thăm thẳm
Bản đồ đây tôi dự ước hành trình
………………………….
Giữa phương Nam biển dội sóng thanh bình
Tôi sẽ lấy Côn Sơn làm khởi điểm
Sau giây phút để tâm hồn mặc niệm
Lắng không gian nghe tiếng gọi tiền nhân
Đường thênh thang chí quyết cũng xem gần
Đây Phú Quốc mùi quê hương tỏa rộng
Hà Tiên với cảnh non chùa Thạch Động
Kiên Giang còn Nhật Tảo sáng ngàn năm
Mắt cô em Cái Sắn tựa trăng rằm
Bao la quá ruộng Cà Mau xếp gợn
Thuyền độc mộc xuôi trên dòng Cái Lớn
Xuyên kênh đào về trẩy hội Tây Đô
Lòng Hậu Giang bát ngát tận đôi bờ
Cùng hẹn với Sông Tiền trôi chậm rãi
Sen Đồng Tháp phơi màu tươi thắm mãi
Núi Điện Bà che rợp bóng tôn nghiêm
Trăng Sài Thành e thẹn dưới đèn đêm
Hai ngả nước ai Đông Nai – Gia Định?
Bờ Long Hải chiều êm rây nắng tịnh
Bưởi Biên Hòa ngọt lịm khách miền xa
Trà B’Lao sưởi ấm nếp môi già
Đà Lạt gió quyện vầng mây thác nước
Rừng Ban Mê suối đờn nai khẽ bước
Buồm lao xao Phan Thiết rộn niềm vui
Ngọn Tháp Chàm cô quạnh tiếc ngày trôi
Tàu vạn quốc về Cam Ranh chen chúc
Thùy dương rủ Nha Trang thêm hiền thục
Đá Bia còn nguyên nét triện người xưa
Bãi Tam Quan cát mịn ấp chân dừa
Guồng xe tưới Sông Trà gieo bụi trắng
Ngũ Hành ngắm mặt Hàn Giang phẳng lặng
Hải Vân đài cao vút tuyệt đường chim
Nửa khuya chuông Thiên Mụ vọng êm đềm
Cả Hương Ngự la đà theo nhịp trúc
Cầu Hiền Lương…
…sẽ nối tình Nam Bắc
Xóa nhòa đi dòng phân cách thương đau
Từ Nam Quan cho đến mũi Cà Mau
Liền một dải
…và chuyến đi lại tiếp…
*Men theo bóng dãy Trường Sơn trùng điệp
Sóng Thái Bình reo đón bước phiêu du
Qua Đèo Ngang nghe nhạc gió vi vu
Tới Thanh Hóa lúa vàng đùa trong nắng
Dân hoan lạc nhờ được mùa Nông Cống
Đem nén nhang vào lễ tạ Đền Sòng
Cầu Hàm Rồng chênh chếch bắc ngang sông
Trên dòng Mã nước in màu sông núi
Dìu dịu lúa non bình nguyên Nhị Thái
Tình ngọt ngào như nhãn trại Hưng yên
Gió Đồ Sơn xua sóng bạc dịu hiền
Cửa Nam Triệu nước hai dòng mặn nhạt
Chiều Hạ Long mây vương tình man mác
Với chân trời sắc nước lẫn màu xanh
Sóng nhấp nhô vờn khe đá chông chênh
Thuyền nhẹ lướt, phải đây miền nước nhược?
Động Đầu Gồ ánh chập chờn huyền hoặc
Hang Hanh nghe khoan nhặt nhạc âm vang
Đây Hòn Gai, đây Bái Tử Hạ Long
Mà đâu bóng rồng thiêng sa hạ giới?
Núi Truyền Đăng thơ đề còn in mãi
Ngược sông Thương lên trẩy hội Tam Thanh
Chàng ra đi theo tiếng gọi quân hành
Để thiếp phải tháng năm trong mòn mỏi
Nàng Tô Thị đứng trông về biên ải
Ngàn năm còn chờ đợi bóng chinh phu
Chim Hà Giang buông nhịp hót “bắt cô”
Trên bến nước sông Lô còn tiếng hát
Nương bóng Hoàng Liên cây cao bóng mát
Rồi xuôi về theo sóng nước sông Hồng
Mây chịu tang Yên Bái có còn không?
Và Yên Thế còn tấm gương Đề Thám?
Bắc Ninh đẹp nhờ cảnh chùa Long Giáng
Sơn Tây buồn vì mây quyện Ba Vì
Đền Hùng mờ sương khói tỏa uy nghi
Non sông Việt nhờ tay ai dựng lập?
Sớm Hòa Bình Chợ Bờ vui vẻ họp
Bến sông Đà dòng nước chảy cong cong
Tháng hai về xem trẩy hội Chùa Hương
Hay trở bước lên thăm đền Thánh gióng?
Về Hà Nội một ngày thu gió lộng
Cảnh núi Nùng sông Nhị dấu ngàn xưa
Sóng Hồ Tây gợn bởi bước Hai bà
Hay là bởi trâu vàng xưa nhớ mẹ?
Đống Đa kia mồ chôn muôn vạn kẻ
Hồ Gươm còn thức ngủ bóng rùa thiêng?
Cầu Long Biên mấy nhịp bắc trường giang?
Ô năm cửa mở đón chào lữ khách
Đây cố đô bụi đường ta rũ sạch
Sống với lòng đất Mẹ – với kiêu sa
……………………….
Bàn tay vỗ nhịp ta ca
Ca tình Sông Núi chan hòa lòng Trai

Tháng 7-8 năm 1960
Trần Huiền Ân & Yên Hà

Nhân đây chúng tôi cũng xin cảm ơn anh Nguyễn Đăng Khoa – Johnny Nguyen K, cảm ơn chị Linh Phượng, nhờ có anh chị mà chúng tôi biết được anh Trần Huiền Ân không chỉ là tác giả bài Chuyến Đi Dài mà còn được làm quen với người Thầy đã từng biên soạn gần 80% trong sách Tân Việt Văn lớp Nhì, lớp Nhứt từ năm 1964 của Bộ Giáo Dục Miền Nam và sắp tới đây thỉnh thoảng tác giả sẽ chia sẻ với thầy trò chúng ta một số bài thơ hay trên trang ĐG-HHT.

TN K6

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged