HÓA THÂN VÁCH ĐÁ

.

Ta ở đây hoa vàng và lá tím
Núi thì xanh xanh mãi tận chân trời
Cây với cỏ suốt bốn mùa bịn rịn
Chưa một lần nghe sóng vỗ trùng khơi

Và cứ thế rồi cũng thành quen hết
Ta là ta con thác đổ lưng đèo
Ta là ta mây cao dàn trảng rộng
Nắng trong ngần rọi bóng nước trong veo

Ta cũng biết người xa xôi quá đỗi
Lòng mênh mông nào ai thấy bến bờ
Lòng thăm thẳm nào ai dò nông nổi
Một bước vào hun hút cõi hư vô

Thôi thì vậy bạn bè cùng cổ thụ
Nghe lời chim liên tưởng ấy lời người
Cánh bướm chớp từng trang thư gấp mở
Hóa than in vào vách đá nơi nơi

Thầy Trần Huiền Ân

CHUYẾN ĐI DÀI

.
.
Chúng tôi xin được đăng bản gốc của bài thơ (bài Học Thuộc Lòng) CHUYẾN ĐI DÀI do thầy TRẦN HUIỀN ÂN gửi tặng:

Tuổi niên thiếu vốn giàu mơ lắm ước
Tôi đã nuôi trong trí chuyến đi dài
Biết bao giờ cho thỏa được lòng trai
Chân bé quá, không mang hài vạn dặm
Để ngày tháng vơi đôi phần thăm thẳm
Bản đồ đây tôi dự ước hành trình
………………………….
Giữa phương Nam biển dội sóng thanh bình
Tôi sẽ lấy Côn Sơn làm khởi điểm
Sau giây phút để tâm hồn mặc niệm
Lắng không gian nghe tiếng gọi tiền nhân
Đường thênh thang chí quyết cũng xem gần
Đây Phú Quốc mùi quê hương tỏa rộng
Hà Tiên với cảnh non chùa Thạch Động
Kiên Giang còn Nhật Tảo sáng ngàn năm
Mắt cô em Cái Sắn tựa trăng rằm
Bao la quá ruộng Cà Mau xếp gợn
Thuyền độc mộc xuôi trên dòng Cái Lớn
Xuyên kênh đào về trẩy hội Tây Đô
Lòng Hậu Giang bát ngát tận đôi bờ
Cùng hẹn với Sông Tiền trôi chậm rãi
Sen Đồng Tháp phơi màu tươi thắm mãi
Núi Điện Bà che rợp bóng tôn nghiêm
Trăng Sài Thành e thẹn dưới đèn đêm
Hai ngả nước ai Đông Nai – Gia Định?
Bờ Long Hải chiều êm rây nắng tịnh
Bưởi Biên Hòa ngọt liệm khách miền xa
Trà B’Lao sưởi ấm nếp môi già
Đà Lạt gió quyện vầng mây thác nước
Rừng Ban Mê suối đờn nai khẻ bước
Buồm lao xao Phan Thiết rộn niềm vui
Ngọn Tháp Chàm cô quạnh tiếc ngày trôi
Tàu vạn quốc về Cam Ranh chen chúc
Thùy dương rủ Nha Trang thêm hiền thục
Đá Bia còn nguyên nét triện người xưa
Bãi Tam Quan cát mịn ấp chân dừa
Guồng xe tưới Sông Trà gieo bụi trắng
Ngũ Hành ngắm mặt Hàn Giang phẳng lặng
Hải Vân đài cao vút tuyệt đường chim
Nửa khuya chuông Thiên Mụ vọng êm đềm
Cả Hương Ngự la đà theo nhịp trúc
Cầu Hiền Lương…
…sẽ nối tình Nam Bắc
Xóa nhòa đi dòng phân cách thương đau
Từ Nam Quan cho đến mũi Cà Mau
Liền một dải
…và chuyến đi lại tiếp
Men theo bóng dãy Trường Sơn trùng điệp
Sóng Thái Bình reo đón bước phiêu du
Qua Đèo Ngang nghe nhạc gió vi vu
Tới Thanh Hóa lúa vàng đùa trong nắng
Dân hoan lạc nhờ được mùa Nông Cống
Đem nén nhang vào lễ tạ Đền Sòng
Cầu Hàm Rồng chênh chếch bắc ngang sông
Trên dòng Mã nước in màu sông núi
Dìu dịu lúa non bình nguyện Nhị Thái
Tình ngọt ngào như nhãn trại Hưng yên
Gió Đồ Sơn xua sóng bạc dịu hiền
Cửa Nam Triệu nước hai dòng mặn nhạt
Chiều Hạ Long mây vương tình man mác
Với chân trời sắc nước lẫn màu xanh
Sóng nhấp nhô vờn khe đá chông chênh
Thuyền nhẹ lướt, phải đây miền nước nhược?
Động Đầu Gồ ánh chập chờn huyền hoặc
Hang Hanh nghe khoan nhặt nhạc âm vang
Đây Hòn Gai, đây Bái Tử Hạ Long
Mà đâu bóng rồng thiêng sa hạ giới?
Núi Truyền Đăng thơ đề còn in mãi
Ngược sông Thương lên trẩy hội Tam Thanh
Chàng ra đi theo tiếng gọi quân hành
Để thiếp phải tháng năm trong mòn mỏi
Nàng Tô Thị đứng trông về biên ải
Ngàn năm còn chờ đợi bóng chinh phu
Chim Hà Giang buông nhịp hót ” bắt cô”
Trên bến nước sông Lô còn tiếng hát
Nương bóng Hoang Liên cây cao bóng mát
Rồi xuôi về theo sóng nước sông Hồng
May chịu tang Yên Bái có còn không?
Và Yên Thế còn tấm gương Đề Thám?
Bắc Ninh đẹp nhờ cảnh chùa Long Giáng
Sơn Tây buồn vì mây quyện Ba Vì
Đền Hùng mờ sương khói tỏa uy nghi
Non sông Việt nhờ tay ai dựng lập?
Sớm Hòa Bình Chợ Bờ vui vẻ họp
Bến sông Đà dòng nước chảy cong cong
Thàng hai về xem trẩy hội Chùa Hương
Hay trở bước lên thăm đền Thánh gióng?
Về Hà Nội một ngày thu gió lộng
Cảnh núi Nùng sông Nhị dấu ngàn xưa
Sóng Hồ Tây gợn bởi bước Hai bà
Hay là bởi trâu vàng xưa nhớ mẹ?
Đống Đa kia mồ chôn muôn vạn kẻ
Hồ Gươm còn thức ngủ bóng rùa thiêng?
Cầu Long Biên mấy nhịp bắc trường giang?
Ô năm cửa mở đón chào lữ khách
Đây cố đô bụi đường ta rủ sạch
Sống với lòng đất Mẹ – với kiêu sa (*)
……………………….
Bàn tay vỗ nhịp ta ca
Ca tình Sông Núi chan hòa lòng Trai

Tháng 7-8 năm 1960
Trần Huiền Ân và Yên Hà (**)

 (*) Đoạn chữ màu đà là phần chấp bút của thầy Yên Hà (Vũ Dzũng)
 (**) Yên Hà – bút danh của thầy Vũ Dzũng- theo thầy Vũ Dzũng viết tiếp đoạn sau là cho đủ Chuyến Đi Dài chứ không dừng lại ở sông Bến Hải,
 Theo tác giả Trần Huiền Ân bài thơ Chuyến Đi Dài viết năm 1960 được đăng trên Tuần báo Tuổi Xanh, năm 1961 đăng trên Việt Ngữ Tân Thư do Nhà Xuất bản Sống Mới phát hành và chỉ in đến …và chuyến đi lại tiếp.( như vậy bài thơ được đăng báo khi tác giả mới 23 tuổi).

MỘT THỜI XUÂN THU

.

“Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi
Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi…”*
Ta đọc cho người câu thơ mấy thuở
Một thời xuân thu ngút trời khói lửa
Một thời xuân thu chữ nghĩa tháp ngà

Đêm đưa dòng sông trôi xa trôi xa
Người dẫn trăng đi thuyền chao sóng mắt
Những ngọn đèn khuya võ vàng cúi mặt
“Hữu tình áp má bông lau” **

Ta tự hỏi thầm: Về đâu? Về đâu?
Người như Phương Cơ chân trần tóc xỏa
Đường bỗng nhiên buồn, bỗng nhiên khác lạ
Tiếng cuồng ca gió hút canh dài

Ta đã thề không uống rượu ai
Đêm nay rượu người lại uống
Lại chợt hiện nỗi niềm phiền muộn
Một thời ảo ảnh hoàng hoa
Một thời xuân thu chữ nghĩa tháp ngà
Cánh bướm cuộn tròn nếp kén

Xin lỗi hẹn. Thôi thì đành lỗi hẹn
Cầm bằng rượu nói thay lòng
Ngỡ ngàng có có không không
Đâu còn tuổi mày ai trăng mới
Nếu trót thức trắng đêm trường mệt mỏi
Mang kính râm mà giấu bụi lề đường…

Một chút buồn
Một chút khói sương
Môht chút ngày xưa
Một chút ngày mai nữa
Ta một nửa có người trong một nửa
Chiều nào thoảng giọng cuồng ca…

  Trần Huiền Ân

* Thơ trong Xuân Thu nhã tập 
** Thơ Đinh Hùng

BẠN CŨ

.
.
Bài BẠN CŨ của thầy Trần Huiền Ân tác giả của nhiều bài Học Thuộc Lòng trong sách giáo khoa bậc tiểu học trước năm 1975, bài BẠN CŨ được báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần đăng ngày 10/9/2015, tuy nhiên Thầy cẩn thận in ra ký tên để gửi tặng 3 anh em chúng tôi qua đường bưu điện và như Thầy đã viết ” Thân gửi các thân hữu thay thư thăm hỏi…” 
Chúng tôi xin được đăng lại bài BẠN CŨ của Thầy:
.
Chúng tôi ngồi nơi bãi biển Đà Nẵng. Đã mấy năm rồi mới trở lại thành phố này? Không nhớ. Những phát triển, những đổi mới? Không nghĩ đến, mặc dù đương nhiên là mình có thụ hưởng kết quả của nó. Chúng tôi, là những người một thời viết cùng nhau.

Minh hÍa: VIIP

Minh họa: VIIP

Hồi ấy, dù đang ở thành phố nào, thị trấn nào, cái “bệnh” chung là vào mấy ngày đầu tháng và giữa tháng thường xuyên ghé lại các sạp báo xem hôm nay trên Bách Khoa, trên Văn, trên Thời Tập, Thời Nay, Phổ Thông… có bài của ai.
Thấy bạn có bài cũng vui như mình có bài. Bạn đang ở Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Buôn Ma Thuột, Quy Nhơn, Hội An, Pleiku, Kon Tum, Cần Thơ, Long Xuyên… Không dễ dàng liên lạc như bây giờ, nhưng thật thân tình, gần gũi…
Bên cạnh tôi là Uyên Hà. Người bạn đời của anh đã mất. Người đã tạo ra trong tâm hồn anh nhiều bài thơ, được đông đảo anh em biết đến là bài Thư về Phú Sơn. Tôi đã đọc không biết bao nhiêu lần bài thơ này, bây giờ đọc cho chính tác giả nghe: Em nhớ thay chiếc dù xưa đi nhé! Kẻo màu mè rực rỡ quá không nên. Bởi làng xóm nghèo, trẻ con xơ xác. Mình thướt tha lòe loẹt quá sao đành.
Cô giáo dạy tiểu học, nói nôm na là “cô giáo làng”, nhiệm sở là một vùng quê, trong thời chiến tranh, làm gì có điều kiện để thướt tha lòe loẹt? Có lẽ tác giả sợ chiếc dù màu cô giáo đã dùng (rất bình thường) ở thành phố, về đây tự nổi bật lên thành rực rỡ.
Nhưng mà… đáng yêu nhất là lời tác giả dặn dò: Đừng bắt chước anh ngày xưa chơi núi. Để học trò thơ thẩn đến rào gai. Nơi bây giờ có mìn gài chông đặt. Tay em hiền, chăn chúng, giữ tương lai… Cánh tay cô giáo tiểu học đúng là cánh tay mẹ hiền chăn dắt bầy con nhỏ, giữ gìn tương lai cho đất nước.
Trong trí tôi lại hiện lên hình ảnh những phút giây học sinh vào lớp, nghiêm chỉnh hát bài Đoàn ca: Học sinh là người Tổ quốc mong cho mai sau. Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công lao…
Chúng tôi, như tự giới thiệu trong câu đầu, còn là những cựu học sinh Trường trung học Đông Giang, có hai người ghép tên với nhau thành một đức tính “Khiêm Nhường”. Do họ ít tuổi hơn nên xưng “em”, chứ thật sự họ đã đi qua cái thời “tri thiên mệnh”. Họ vẫn còn nhớ những bài học thuộc lòng trong các sách Việt Ngữ Tân Thư, Tân Việt Văn…
Vậy, chuyện tình nghĩa giáo khoa thư đâu riêng gì ông Sơn Nam biết, đâu chỉ có thầy phóng viên nọ đi tìm vị độc giả nơi miệt rừng heo hút để đòi tiền báo rồi thành tri kỷ. Ông Sơn Nam hơn người ở chỗ phát hiện chuyện ấy trước, nói ra, để cả nước ồ lên, cảm thông.
Tất nhiên là những câu chuyện của chúng tôi không đầu không đuôi. Trong phạm vi văn chương, cảm phục những người đến hôm nay vẫn viết đều đặn, thường xuyên, bút lực sung mãn mà ý tưởng trung hậu.
Phân vân với những người bỗng dưng im bặt, không biết quy ẩn ở đâu, có nuôi được con gà con vịt nào, có trồng được đám rau đám cải nào, chiều chiều bên mâm cơm trên chiếc chiếu cũ trải nơi bậc thềm vừa tắt nắng có phút giây nào nhớ nghĩ bạn bè? Và những người đã mất, những trường hợp đặc biệt như Doãn Dân, Mạc Ly Châu, Thục Vũ… Còn ai, ai nữa…?
Chúng tôi đã uống, nhiều hơn mọi lần, đã vượt qua cái mức độ tuổi tác cho phép. Tăng Nhường có nói đến hai tiếng “men say”. Vâng, có phần men say, nhưng không say, hoàn toàn tỉnh táo, nhưng là cái tỉnh táo pha trộn chất men.
Thiên hạ vẫn bảo, ở đời có ba thứ càng để lâu càng quý: một là tình bạn, hai là sách hay và ba là rượu ngon. Uống với bạn hiền, rượu nào cũng là rượu ngon. Thời gian gần đây, tôi đã dành một khoảng lớn để đọc lại những bài nghiên cứu có giá trị về văn hóa dân tộc và văn nghệ dân gian trên tạp chíNam Phong, đáng được gọi là sách quý. Và có những giây phút như thế này, ngồi bên bạn cũ. Xét ra, cuộc đời vẫn còn dành cho ta những ưu ái.

TRẦN HUIỀN ÂN

* Uyên Hà ( Bút danh của anh Lê Đình Ba – chồng của Cô Nguyễn Thị Sáu, cô qua đời vừa tròn 1 năm)

ĐÔI ĐIỀU SUY GẪM

.
.
Chúng tôi xin giới thiệu bài báo ĐÔI ĐIỀU SUY GẪM của thầy Trần Sĩ Huệ (Trần Huiền Ân)
đăng trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần ngày 21/6/2015:

DSC_0047 (1)

Thầy Trần Sĩ Huệ

1. Các đồng nghiệp cũ của tôi, những ông thầy “mất dạy”, mỗi lần gặp nhau, vẫn thường nhắc chuyện một thời. Ở các lớp Tiểu học, ba mặt tường treo cao ba khẩu hiệu: TỔ QUỐC TRÊN HẾT – TIÊN HỌC LỄ, HẬU HỌC VĂN – NGÀY NAY HỌC TẬP, NGÀY MAI GIÚP ĐỜI. Trên bảng xanh, dưới hàng “Thứ… ngày… tháng…năm…” là một câu “Cách ngôn” và một phép “Tính nhẩm”. Lúc nào cũng vậy, sau khi học sinh vào lớp, ngồi xuống, thầy cô giáo dành ra năm phút, giảng nghĩa vắn tắt câu cách ngôn và hướng dẫn phép tính nhẩm. Mỗi niên khóa có 9 tháng, trừ nghỉ lễ nghỉ tết còn 32 tuần thực học, mỗi tuần có 3 tiết Đức dục và 2 tiết Công dân giáo dục, mỗi tiết từ 20 đến 25 phút. Đức dục dạy về bổn phận đối với ông bà cha mẹ anh chị em, họ hàng, thầy cô, người già cả… Công dân giáo dục dạy về cách ứng xử ngoài xã hội, lịch sự khi đi đường, trên tàu trên xe, khi đến chỗ đông người, đến công sở v.v… Câu cách ngôn gần như đúc kết và minh họa các bài học. Tính nhẩm, ngoài việc tập cách làm toán không cần giấy bút (dân gian gọi là tính rợ), còn tạo cho học sinh thói quen suy nghĩ nhanh, phản ứng nhanh trước một sự việc. Như vậy, mỗi niên khóa học sinh được học 96 bài Đức dục, 64 bài Công dân giáo dục, được nghe giảng giải 160 lần về các câu cách ngôn, đồng thời được làm tính nhẩm 160 lần. Cộng hết 5 năm bậc Tiểu học, có 480 bài Đức dục, 320 bài Công dân giáo dục, 800 lần tìm hiểu các câu cách ngôn, 800 lần tập tính nhẩm. Như những giọt nước nhỏ xuống từng ngày, thấm dần, thấm dần, sau 5 năm các cậu bé, cô bé từ 11 đến 13 tuổi đã có một ý niệm khá đầy đủ về các điều căn bản của đạo đức và tư cách để làm một người tốt. Đó là cái tuổi nhạy bén, dễ xúc động, dễ ghi nhớ và ghi nhớ bền lâu. Không phải không có những học sinh “không thuộc bài”, nhưng số này rất ít, ít lắm, cái tinh thần “tôn sư trọng đạo” nơi học sinh Tiểu học rất cao, những bài học dưới mái trường luôn luôn là “khuôn vàng thước ngọc” để họ tự giám định. – Nghĩ như vậy, coi trọng thời kỳ ấu học, có chủ quan không?
* *
2. Cũng có lúc chúng tôi nói chuyện… văn chương. Bàn về các nhân vật chính trong thơ cổ được đọc nhiều: Truyện Kiều, Truyện Lục Vân Tiên, Mai Đình mộng ký, Bích Câu kỳ ngộ… Trong các tác phẩm viết ở Miền Bắc, nhân vật nào cũng hào hoa phong nhã, người này cỡi ngựa đi hội đạp thanh, người kia thả thuyền ngắm trăng trên sông Phù Thạch, người gặp tình lạ duyên may, người tương tư đau ốm…vân vân… nghĩa là toàn quý bậc “công tử” giàu sang “ăn chơi” cả. Trái lại, xuất thân ở Miền Nam, trong truyện Lục Vân Tiên đủ hạng dân, cũng nhiều người xấu, nhưng ta được gặp các anh hùng vị nghĩa, không thể không nhắc đến Hớn Minh. Lục Vân Tiên đánh bọn cướp, Hớn Minh dám bẻ gãy chân thằng nhãi con quan, mặc kệ hậu quả phải từ bỏ con đường danh vọng. Có bạn đặt một dấu hỏi vui: Nếu như cái ngày đẹp trời ấy, chị em Kiều-Vân cũng gặp nạn thì phản ứng của Kim Trọng thế nào? Có thể dám liều mình cứu mỹ nhân, cũng có thể ra roi giục cương cho ngựa chạy thoát khỏi vòng lao lý! Không nên trách những người quen sống trong nhung lụa, đài các, mất đi cái “dũng”, chỉ nên khen những con người quê mùa chất phác lúc nào cũng thẳng thắn hành hiệp. Các sử quan viết Đồng Khánh địa dư chí, bàn về từng địa phương, thường cho rằng khí thế núi sông có ảnh hưởng rất lớn tâm tính con người, tạo nên phong tục xứ ấy. Nói về các nhân vật, cũng là nói về những con người thật ngoài đời họ phản ảnh. – Nghĩ rằng do môi trường sinh trưởng, môi trường hoạt động, con người giữ được, hay đánh mất cái “bản thiện”, có chủ quan không?
* *
3. Xem TV, chương trình quảng cáo, cô nọ tắm xà phòng thơm, xức nước hoa, ra đi, cả đám thanh niên quay đầu nhìn theo, ánh mắt đầy vẻ thèm thuồng. Nửa thế kỉ trước, đám thanh niên ấy sẽ bị dư luận chê là thiếu lịch sự. Trong việc ăn uống thì người lớn ngốn ngấu bát mì, nhai ngồm ngoàm đến những sợi mì lòng thòng rơi vãi, trẻ em uống sữa ừng ực, thản nhiên lè lưỡi ra liếm phần sữa đọng quanh mép một cách ngon lành. Trước đây, phong cách ấy đương nhiên bị chê là “ham ăn hốt uống”, không cha mẹ anh chị nào muốn thấy hình ảnh con em mình như vậy. Nhìn ngắm sỗ sàng và ham ăn hốt uống được chiếu lên cho hàng triệu người xem, là nét đẹp trong văn hóa sao?
Trong một tạp bút, ông Võ Phiến (đại ý) cho rằng ở ngày xửa ngày xưa, sống giữa thiên nhiên con người cảm thấy cô đơn, bất trắc, họ chỉ được bình an khi về cùng đồng loại. Nhưng theo thời gian trôi, nhiều sự đe dọa xảy ra ngay chính trong đồng loại, con người lại thấy một mình giữa thiên nhiên tuy cô đơn nhưng bình an. Bây giờ… một mình đi trên đường vắng ta thấy buồn lo, nhưng bất ngờ gặp một người ta càng sợ sệt, không biết kẻ hiền hay kẻ dữ, có thể gây nguy hiểm cho ta không, tính mạng và tài sản của ta có bị đe dọa không? Chẳng mấy ai dám dừng xe, dù vào buổi trưa nắng hay chiều đang dần xuống, cho một người lỡ bước “quá giang”, trong lòng vẫn biết như thế là không nên, song thương bản thân vẫn là việc phải làm hơn.

Thế nhưng, con người dang tàn phá thiên nhiên, ít ra là ích kỉ lãng quên. Ông Võ Phiến có nói đến những hôm trời Sài Gòn bất chợt đổ cơn mưa lớn, rồi tạnh ráo, ngồi trong xe lam (hồi đó xe lam chạy nhiều tuyến đường trong thành phố) chợt nghe tiếng một trái dầu khô rơi xuống gõ nhẹ long cong trên mui, có cảm tưởng như lời nhắc nhở của thiên nhiên gởi cho đô thị. Ngày nay, chắc không còn người Sài Gòn nào nhìn thấy những trái dầu khô theo làn nước chảy tràn. Ai nấy lo sống, tranh sống, từng phút từng giây.
Sự “xuống cấp” trong tình người, suy cho cùng là điều tất yếu khi xã hội càng ngày càng coi trọng vật chất, lợi lộc bất chính, không có cách nào khác là phải chấp nhận, miễn mình đừng làm hại ai là tốt rồi! – Thái độ thỏa hiệp bất đắc dĩ để sống ấy phải chăng dẫn đến sự lãnh cảm, vô cảm, và một ngày nào đó đến lượt ta nhận chịu?
* *
4. Nhớ năm nào… thầy trò chúng tôi đã có những buổi mạn đàm về các bài giảng văn. Ông Nguyễn Bá Học viết về Chí mạo hiểm: Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông. Ông khuyên thanh niên phải lập chí mạo hiểm. Ông Nguyễn Văn Vĩnh chê cái cười “cầu tài” trong bài Gì cũng cười: An Nam ta có một thói lạ là thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười. Hay cũng hì mà dở cũng hì, phải cũng hì, quấy cũng hì. Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang. Theo ông, nếu không muốn bày tỏ ý kiến chân thực thì nên lịch sự từ chối, mới là phải. Tôi bây giờ đã già, gần 80 thì nói ngay là già, chớ tránh trớ rằng “người cao tuổi”. Chí mạo hiểm đã tiêu tan hết, lại nghe không biết bao nhiêu lời khuyên nên xa lánh mọi sự, im lặng trước mọi điều, hoặc giả “phải cũng hì mà quấy cũng hì” cho xong, can thiệp vào e uổng mạng… già. Đọc báo, nhiều chuyện kinh hãi quá, nhưng ít đi, ít chứng kiến. Đầu tháng năm vừa rồi, ra Đà Nẵng, giữa tháng năm vô Sài Gòn thấy thiên hạ chen chúc xe cộ trên đường phố vẫn còn… hiền lành, tuần sau lại đi Hà Nội, hi vọng không đến nỗi bị sốc. Có thể chúng ta đang bi thảm hóa cuộc sống chăng? Chắc là không. Cuộc sống hiện tại, nhìn bằng con mắt thường, nghe bằng lỗ tai thường, suy nghĩ bằng khối óc thường… đáng buồn lắm! Có quyền, có thế, có tiền, liên kết với nhau thành có lợi. Thường dân bị ức hiếp, hàm oan kêu đến công lý thì công lý làm ngơ! Dần dà thành quen, việc xấu coi là “chuyện nhỏ”. Sao lại nhỏ? – Phải nhìn thẳng vào thực tế, đừng lạc quan tếu, cũng đừng làm con đà điểu cúi đầu trốn lánh!
* *
5. Đôi điều suy gẫm như thế, đưa đến câu hỏi: Nguyên nhân do đâu? Từ đâu? Kết quả thế nào? Đưa trách nhiệm cho các nhà giáo dục chăng? Đưa trách nhiệm cho các nhà văn hóa, xã hội chăng? Hỏi các nhà làm chính sách, những kế hoạch 5 năm, 10 năm có phần nào cho lĩnh vực tinh thần của cả dân tộc, đừng kể các lễ hội buôn thần bán thánh, lúc nào nơi nào cũng sẵn sàng mọc ra, dưới mỹ hiệu “truyền thống”.
Tuổi già đi vào ngõ cụt. Không thoát nổi cái vòng lẩn quẩn. Đâu dám khuyên bảo lớp hậu sinh.

TRẦN HUIỀN ÂN

HOA VÒI VOI

.

Hai xóm cách nhau nhánh sông nho nhỏ
Một bến đò ngang chắp mút nẻo đường
Hai đứa quen nhau lúc nào chẳng rõ
Hăm mấy năm trường chẳng mến cùng thương
Thuở nào xa xưa chung thầy chung bạn
Bữa cơm mo trưa chung đội bóng xoài
Mùa trăng hạ tăm chung dòng nước cạn
Con sông hiền âu yếm vỗ tầm vai
Đêm tháng chạp rủ chơi trò giặc giả
Hai xóm hai miền hai đứa hai phe
Đứa do thám địch tình trên đất lạ
Đứa tuần hành tai mắt cố tìm nghe
Thằng tuần tiễu bắt được thằng do thám
Giữa đám vòi voi hoa trắng ven sông
Nó lưỡng lự nhìn mây trời tự xám
Khẽ mỉm cười…Tha đó…chạy đi ông
Nhưng thuở nào xa xưa giờ đã hết
Cuộc tương tàn hai đứa lại hai phe
Im lặng chia tay một chiều vãn tết
Muốn hé nên lời sợ chính mình nghe
Rồi sau đêm bờ sông bom đạn rú
Một thằng đi dọn máu xương tàn
Lật xác quân thù…Ôi…người bạn cũ
Giữa đám vòi voi hoa cuộn băng tang

1965
Trần Huiền Ân

LAU SẬY MÙA THU

.

Và như thế em đành lòng ở lại
Dòng sông xưa lau sậy trắng đôi bờ
Từ đánh mất tuổi hồn nhiên con gái
Em mỏi mòn nhìn ngõ nhỏ tiêu sơ

Anh biết đây tuổi mười lăm mười tám
Những chân trời không đỏ lá trạng nguyên
Hoàng hôn rợp màu mây chì ảm đạm
Đêm chong đèn xin chút bóng bình yên

Ngày cứ vậy sáng trưa chiều quạnh vắng
Gọi tên mình em khẽ bật cơn ho
Dòng sông rẽ hai bờ lau sậy trắng
Lạc loài bay xa hút một thân cò

Trời không nắng cho áo hồng sát nách
Trời không mưa cho dù biếc nghiêng đầu
Trời không lạnh để quàng khăn nguyệt bạch
Mây nặng nề trôi gấp gấp về đâu

Mây nặng nề đuổi thân cò xa hút
Em chỉ còn lau sậy trắng đìu hiu
Con ngõ nhỏ tự ngàn năm côi cút
Vẫn khép hờ đôi mắt rắn liu điu…

TRẦN HUIỀN ÂN

NHỮNG CƠN MƯA

Đã từng có những cơn mưa
Còn trong trí nhớ những trưa xa vời
Bốn bề sầm sập mưa rơi
Lòng vui thư thái thấy đời nhẹ tênh

Năm nào còn tuổi thiếu niên
Nhà tranh vách đất một miền núi xa
Trưa mưa ngon giấc cả nhà
Còn riêng thức một mình ta trên thềm
Giơ tay vốc chuỗi mưa mềm
Giơ chân giọt nước êm đềm theo chân
Mưa tràn đám thổ qua sân
Gà trưa thưa thớt nhắc chừng thời gian
Trăm ngàn mộng ước lan man
Từng cơn mưa nối lại càng lê thê

Năm nào dạy học vùng quê
Có hôm chủ nhật dầm dề mưa rơi
Buổi trưa nhà trọ vắng người
Một mình ta với một trời đổ mưa
Ngâm tràn lớp lớp thơ xưa
Mưa chan tiếng đục còn chừa tiếng trong
Lời thơ lẩn quất tong phòng
Nửa vòng yên tĩnh, nửa vòng yêu thương
Mưa ngời trắng mặt nước mương
Mưa giăng trắng cả con đường cái quan

Nỗi vui vui rất nhẹ nhàng
Nỗi buồn như cũng dễ dàng thành vui
Những cơn mưa của một thời
Tuổi mười lăm, tuổi hái mươi thuở nào

Vốn đời lãng phí tiêu hao
Bỗng nhiên gặp lại ào ào cơn mưa
Giật mình nhớ tiếng gà trưa
Vần thơ năm ấy như vừa mới đây
Ngoài hiên mưa chắn song dày
Nằm ôn lại chuỗi tháng ngày trải qua
Chưa năm mươi tuổi, chưa già
Aùo cơm nhẫn nhục tài hoa mỏi mòn
Hỏi còn chăng chút lòng son
Rằng không, bóp bẹp vo tròn ra chi!
Hỡi người tương thức tương tri
Mai sau nào biết có gì mà mong!
Say xem, rượu chẳng khuây lòng
Tỉnh xem, đâu thoát khỏi vòng linh đinh
*
Lật tờ báo cũ xem hình
Thấy bài thơ hợp ý tình cũng hay
“Làm gì đây để giải khuây
Ngắm tay mới biết mình gầy hơn xưa” *

Trần Huiền Ân

*Thơ Tô Thùy Yên –Trời mưa đêm xa nhà

Tuổi già

.
.

Vừa lên bảy mươi, già rồi chứ ?
Tai nghe gió thoảng tưởng lời ca
Mắt mờ do đục thủy tinh thể
Trăng sao nhìn thấy một thành ba…

Khơi khơi nhẩm lại dòng kí ức
Ôi một thời “rải rác biên cương”
“Áo bào thay chiếu” -“hề ly cách”
“Ðêm dài gác trọ rũ phong sương”

“Tửu thiên bôi thiểu phùng tri kỉ”
“Tự viễn phương lai bất diệc hồ?”*
Non xanh thác trắng reo đầu núi
Bãi vàng duềnh nước chảy quanh co…

Ừ xa…thuở ấy từng năm tháng
Là tháng năm ta với cuộc đời
Cuộc đời ơi hỡi thương nhau lắm
Mà sống như là để giỡn chơi!

Bây giờ chẳng lẽ “ta già nhỉ?”*
Sấp bàn tay lốm đốm da mồi
Vết hằn dâu biển nhăn vầng trán
Mái đầu sắp bạc cả gương soi!

Thoáng buồn chợt nhớ đêm hôm ấy
Tiệc rượu tình cờ gặp cố nhân
Hồng nhan vẫn nét hồng nhan cũ
Môi cười mắt ngó vẫn thanh tân

“Cái thuở ban đầu ai đã dễ”*
Cầm cho con sáo chẳng sang sông
Chiêm bao thức giấc trên bờ cỏ
Vệt nắng phù hoa quét ruộng đồng

Bây giờ có lẽ ta già thật!
“Bần tiện chi giao” * mấy kẻ còn?
Riêng một mình ta trong hẻm vắng
Mơ hồ tiếng vượn hú đầu non

Bây giờ có lẽ ta già thật!
Thắp đuốc tầm xuân giữa chợ ma
Ðồng tiền thả nổi trong thau nước
Không đủ mời nhau cạn tách trà!

Bây giờ… đúng vậy, ta già thật.
Ðốt sách mà hơ ấm cõi lòng
Ðốt sách xông tìm hương khói cũ
Giữa chiều hun hút lạnh vào đông…

* Mượn thơ các thi sĩ tiền bối

Trần Huiền Ân
       

CHUYỆN “GIÁO KHOA THƯ” CỦA TÔI

       Tran Huien An 1

Thầy Trần Huiền Ân

Thời tiểu học của chúng tôi, ba kỳ cùng dùng bộ giáo khoa thư do Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn. Về sau, bạn bè gặp nhau, trong lúc nhàn đàm cũng có khi nhắc lại bài cũ, giống như các nhân vật của Sơn Nam. Còn đây là chuyện “giáo khoa thư” có phần riêng tư, chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp, giữa tôi và vài ba người.
Tuổi hai mươi: dạy học – viết báo

Hai mươi tuổi, tôi bước vào nghề dạy học. Không lâu sau, cộng tác với tuần báo Tuổi Xanh do một số nhà giáo có uy tín (Bùi Văn Bảo, Hà Mai Anh, Bùi Quang Kim, Đoàn Xuyên… ) chủ trương. Ông Bùi Văn Bảo bút danh Bảo Vân, còn ký Bê Bình Phương. Ông Hà Mai Anh đã được biết đến nhiều qua tác phẩm (dịch) Tâm hồn Cao Thượng. Ông Bùi Quang Kim có khi ký Bê Ka. Ông Đoàn Xuyên, người hiền nhất, chỉ dùng tên thật.

Cũng là buổi đầu cầm bút của tôi. Tuổi đôi mươi tâm hồn trong sáng. Ở tỉnh nhỏ, lại ở nhà quê, mọi người sống với nhau tình cảm thật đậm đà. Thêm không khí học đường có thể nói như cõi thần tiên. Mỗi tuần tôi có trên Tuổi Xanh ít nhất là một bài thơ, một truyện ngắn, rồi còn ngụ ngôn, câu đố v.v… Vui lắm! Bài vở pha chút yêu đương, lãng mạn thì đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong. Chiến tranh chưa tái diễn, đêm không sợ pháo kích, đi tàu lửa, xe đò không sợ mìn… Không nghe chuyện cướp giật, đâm chém. Yên ổn. Thái bình. Khuya khoắt có thể thong thả đạp xe trên quốc lộ, những đoạn trống vắng không có xóm làng, và gặp một người lạ cũng như gặp một người quen, chào hỏi nhau, chẳng có gì bận tâm lo lắng.

Các nhà giáo nói trên đã từng biên soạn sách giáo khoa tiểu học. Khai giảng năm học 1961-1962, nhà xuất bản Sống Mới phát hành bộ Việt Ngữ Tân Thư, tác giả là quý ông Bùi Văn Bảo, Bùi Quang Minh, Chu Đức Nhuận, có dùng một số bài của tôi đăng trên Tuổi Xanh, như đoạn văn viết về ngày khai trường làm bài tập đọc đầu năm cho lớp Nhất, một số bài thơ làm bài học thuộc lòng cho lớp Nhất và lớp Nhì, tôi chỉ nhớ có bài Chuyến đi dài. Lúc này càng vui hơn, ở tuổi đời 24, chưa tròn 4 tuổi nghề, có thơ văn được giảng dạy cho học sinh tiểu học trong cả nước (cụ thể là cả Miền Nam), chuyện đó tôi chưa hề mơ ước.

Góp phần biên soạn “Tân Việt Văn”

Cuối năm 1963, ông Bùi Văn Bảo soạn bộ Tân Việt Văn. Trong Lời nói đầu nêu rõ đặc điểm của bộ sách, khác với những lần trước:

“Về bài tập đọc, chúng tôi nhờ các nhà văn yêu trẻ soạn những bài tập đọc thành một câu chuyện liên tục sát thực tế và gần gũi với trẻ em hơn. Học sinh trong khi tập đọc sẽ tìm thấy ở đó những người bạn quen thuộc, cùng làm việc và cảm nghĩ như mình, chắc chắn sẽ thấy thêm phần hứng thú… Để không thiếu sót, ở các bài chính tả chúng tôi đã lựa chọn những đoạn văn hay trong nhiều văn phẩm để cho các em làm quen với các lối hành văn khi thì bay bướm, văn hoa, khi thì hùng mạnh, sắc bén của các nhà văn nổi tiếng…Về văn vần dùng làm các bài học thuộc lòng chúng tôi đã hợp tác cùng một số thi sĩ để soạn riêng những vần thơ trong sáng, dễ hiểu, giàu nhạc điệu cho thích hợp với các em hơn…”.

Ông Bùi Văn Bảo và hai nhà giáo Bùi Quang Minh, Chu Đức Nhuận soạn các phần chuyên môn (như ngữ vựng, chính tả, văn phạm, tập làm văn, tập viết…), anh Lê Tất Điều soạn phần tập đọc (vợ anh Điều cũng là một tác giả thường xuyên có bài trên Tuổi Xanh, tên chị rất hiền lành là Lê Thị Hiền Lành, bút hiệu Tường Chi) tôi và anh Khánh Linh soạn phần học lòng (tôi soạn lớp Nhất, lớp Nhì, nửa niên khóa các lớp Ba, Tư, Năm, anh Khánh Linh soạn nửa niên khóa các lớp Ba, Tư, Năm). Hình ảnh minh họa, phụ bản do hai họa sĩ Nguyễn Mạnh Tuân và Huỳnh Phú Nhiều đảm nhận. Chúng tôi nhận được bản chương trình Việt văn của từng lớp, ông Bảo Vân đã chia ra hàng tháng, hàng tuần, theo chủ điểm. Trừ các tuần ôn tập, nghỉ tết, nghỉ lễ, mỗi niên khóa còn lại 30 tuần thực học, cần 30 bài tập đọc và 30 bài học thuộc lòng. Anh Điều xây dựng một nhân vật tên Dũng 10 tuổi, gia đình có cha mẹ, một anh, hai em, còn ông bà nội đã già, có các bạn học là Hùng, Phong, Tâm. Các bài học thuộc lòng, có khi tôi viết 2 bài (cùng chủ điểm), gặp chủ điểm thích thú như quê hương, làng xóm, tình yêu kính cha mẹ, thầy giáo… có khi tôi viết 3 bài, tôi thêm bài của hai bạn thân là Vũ Dzũng và Ngọc Mân (cha nhà văn Nguyễn Nhật Ánh) gởi cả vào để ông Bảo Vân lựa chọn. Khi sách xuất bản, tôi có 22 bài (trong tổng số 30 bài) học thuộc lòng lớp Nhất, Vũ Dzũng 1 bài, Ngọc Mân 1 bài, còn lại của ông Bảo Vân 2 bài, cụ Bạch Lĩnh 1 bài và trích trong tác phẩm cổ văn nói về Tổ Hùng Vương, Gia huấn ca. Học thuộc lòng lớp Nhì hầu hết là của tôi: 28/30 bài.

Tân Việt Văn cũng như Việt Ngữ Tân Thư đã được Hội đồng duyệt sách giáo khoa của Bộ Giáo Dục cho phép được sử dụng trong các trường tiểu học, thêm vào đó việc quảng cáo và trực tiếp giới thiệu đến tận các trường của nhà xuất bản Sống Mới có hiệu quả cao nên mỗi kỳ nghỉ hè đều phải tái bản để cung cấp cho niên khóa mới. Thế nhưng đối với các tác giả, có lẽ phần nào không coi trọng việc giữ gìn, cho nên sau tháng 4/1975 tôi không còn một bản nào cả.

“Quê Em” nơi xứ người

Cách đây mấy năm, Lê Thị Huệ ở Mỹ có bỏ công sưu tầm một số thơ cũ, gom thành tập “Thơ Tình Nam 1975” (tức là thơ tình của các tác giả Miền Nam trước tháng 4/1975, mỗi tác giả một bài). Mở đầu bài điểm sách (ngày 27/7/2012) Nguyễn Thị Hải Hà viết:

“ Tôi không nhớ tôi bắt đầu được tiếp xúc với thơ từ lúc nào. Có lẽ từ khi tôi nghe những câu hò điệu hát ru em. Vào tiểu học tôi thích những bài thuộc lòng vì đó là những câu thơ có vần và giàu âm điệu. Bài học thuộc lòng tôi học từ năm lớp Nhất đến giờ này tôi vẫn còn nhớ nguyên bài, bắt đầu với những câu:

Khi khôn lớn rộng đường ra hải ngoại
Nếu có người muốn biết rõ quê em
Mở bản đồ em sẽ chỉ người xem
Đây nước Việt bốn ngàn năm yêu quí …”

Xin mở ngoặc: Hải Hà nay cũng ở Mỹ, tốt nghiệp kỹ sư cơ khí, cao học ngành quản trị kỹ nghệ và xây dựng trường New Jersey Institute of Technology. Ngoài công việc chuyên môn kỹ thuật thì sáng tác, dịch và điểm sách.

Tôi hơi ngờ ngợ. Bài học thuộc lòng. Giống như thơ của tôi. Tôi không còn nhớ. Qua Lê Thị Huệ, tôi liên lạc với Hải Hà. Đúng là thơ của tôi. Bài Quê em, sách Tân Việt Văn. Hải Hà chép lại, theo trí nhớ, gởi cho tôi trọn vẹn bài thơ 20 câu. Tôi biết Hải Hà còn thuộc vì bài thơ đã được ghi sâu vào tâm trí thiếu nữ, và vui vẻ nhắc lại vì phù hợp với hoàn cảnh hiện tại, đang định cư ở nước ngoài, nhớ nghĩ về quê, về cái tuổi học trò một thuở nào. Lòng tôi thì phải nói là tràn đầy hạnh phúc, khác nào đáy biển mò kim, tự nhiên bỗng có lại chút phần đời đã mất.

Truy tìm “Chuyến Đi Dài”

Chuyến đi dài là bài thơ tôi cùng viết với Vũ Dzũng (Dzũng ký bút hiệu Yên Hà), tưởng tượng một chuyến đi khắp mọi miền đất nước, từ Nam Bộ khởi hành tại Côn Sơn, ra Trung Bộ rồi Bắc Bộ, cuối cùng dừng lại Thăng Long, mỗi nơi đi qua chỉ cô đọng trong 1 hoặc 2 câu, nguyên đăng trên tuần báo Tuổi Xanh, chiếm 2 cột dài từ đầu đến cuối trang. Sau ông Bùi Văn Bảo trích một nửa làm bài học thuộc lòng trong Việt Ngữ Tân Thư, cũng phải chia ra 2 lần học, 2 tuần lễ. Loại thơ nói về đất nước quê hương này dễ tạo được cảm tình của người đọc. Một số là độc giả của Tuổi Xanh, một số là học sinh lớp Nhất từ năm 1961 đến 1974. Trải qua bao cuộc biến thiên, gian nan, cơ cực, nay tương đối thanh nhàn không bận tâm nhiều về nợ áo cơm … người ta chợt nhớ đến học đường, đến văn chương, nhớ đến ông thầy bà cô, quyển sách, tờ báo. Tôi cũng may mắn được cuộc đời chiếu cố, như bài thơ Quê em trên đây và thỉnh thoảng có người nhắc và hỏi bài Chuyến đi dài.

Năm ngoái, tôi nhận được điện thoại của Tăng Nhường ở Đà Nẵng. Anh cho biết ngày trước đã học bài Chuyến đi dài, nhiều năm nay muốn biết tác giả, ra sức tìm hiểu mà không rõ tác giả ở đâu, bỗng đọc trên một trang mạng thấy: Trần Huiền Ân tên thật là Trần Sĩ Huệ, hiện sống tại Tuy Hòa. Tăng Nhường hỏi bưu điện Tuy Hòa, có số điện thoại của tôi và gọi cho tôi. Qua giọng nói tôi tin là anh vui mừng thật sự, anh gọi tôi là thầy, dù tôi chưa có một ngày dạy anh. Sách báo có in Chuyến đi dài mất hết, nhưng may tôi còn bản chép tay, sao lại gởi tặng Nhường gọi là đáp tình tri kỉ.

Trong khi ấy Nguyễn Đăng Khoa ở Nha Trang, thuộc lớp trẻ, cũng dò tìm Chuyến đi dài. Nhường và Khoa gặp nhau trên mạng. Hình như Khoa cũng gốc Quảng Nam, họ dễ thành thân thiết. Khoa cho biết, do một số người trong gia đình, mấy chị lớn, thuộc bài Chuyến đi dài, và trong mỗi chuyến đi, đến nơi nào đó, các chị lại đọc câu thơ thích ứng và giải thích cho các cháu.

Đăng Khoa cũng tìm được mấy bài nữa trong Tân Việt Văn gởi cho Tăng Nhường đăng trên trang mạng của cựu học sinh trường Đông Giang Đà Nẵng, như bài Mùa ly biệt viết về nghỉ hè, bài Tranh đấu sử nhắc lại những gương sáng người xưa chống Tàu.

Nhìn lại dung nhan “Tân Việt Văn”

Gần đây, trên một trang “Sách Xưa” nhìn lại được dung nhan Tân Việt Văn lớp Nhất và lớp Nhì (tôi mới có dữ liệu để viết phần trên).

Không phải là loại ấn bản đầu tiên (đầu năm 1964). Cuốn Tân Việt Văn lớp Nhất phát hành ngày 7/4/1967, giá bán 60 đồng. Bìa in 2 màu, bên trái màu xám đậm, 3 chữ Tân Việt Văn thành 3 dòng, bên phải màu vàng, rộng hơn, hình vẽ 2 học sinh đang mở sách. Bên trong, một số trang có nét chữ ghi “Tư thục Tài Hoa”, có lẽ sách được một giáo viên trường này sử dụng. Nhiều số trang ghi ngày giảng dạy, bắt đầu là ngày 14/7/1969. Hồi ấy các trường tư nghỉ hè ít, khai giảng sớm. Từ tiểu học lên trung học, các em thi vào đệ thất (lớp 6) công lập xong là đi học các trường tư. Khi có kết quả nếu đậu thì qua trường công, không đậu thì tiếp tục học trường tư, không bị thiếu chương trình.

Cuốn Tân Việt Văn lớp Bốn (lúc này không gọi là lớp Nhì nữa) phát hành ngày 20/2/1974, giá bán 400 đồng. Qua 7 năm, giá cả tăng lên trên 6 lần! Bìa chỉ khác chữ tên lớp và màu xanh tươi thay cho màu xám đậm. Nơi góc trang bìa trong ghi Phạm Kim Phụng, chữ đẹp, ký tên, và khuôn dấu in 3 hàng: “Tủ sách Nguyễn Trọng Tuấn. An Dân. Tân Tạo. An Túc. 22031975” (Có lẽ là ngày gia đình này kiểm kê sách?). Bên trên trang Lời Nói Đầu viết: “Cả tuổi thơ và hình bóng cô giáo Lê Thị Thu H… ở trong quyển sách này. Xin nhớ mấy cô giáo thân yêu và bạn bè của một thời. Sg 23.10.2010”. Chữ ký. Tên cô giáo, sau chữ H… bị nhòa mất, không đọc được. Chắc chắn cuốn sách này của học sinh dùng. Niên khóa 1974-1975 vào học lớp Bốn, 9 tuổi, vậy năm 2010 nhớ lại “cô giáo thân yêu và bạn bè một thời” là 45 tuổi. Người này đã thành đạt tới đâu hay phải chịu nhiều lao đao lận đận của mười lăm năm ấy? Nào biết hỏi ai!

Tôi cũng nhìn lại được trang bìa hai cuốn Việt Ngữ Tân Thư lớp Nhất (sau là lớp Năm) nền màu cam, lớp Hai nền màu xám đậm, có hình bản đồ Việt Nam và hàng chữ “Nhật tân, nhật nhật tân” đóng khung..

Lời cảm ơn chân thành

Viết những dòng này, tôi muốn nói lời chân thành cảm ơn với vị cựu giáo viên Tư thục Tài Hoa, cựu học sinh Phạm Kim Phụng, gia đình Nguyễn Trọng Tuấn, đã sử dụng sách một cách thiết thực và trân trọng, Kim Phụng đã gởi gắm vào đó “cả tuổi thơ và hình bóng cô giáo thân yêu và bạn bè”, cảm ơn người sưu tầm sách xưa đưa lên mạng, người chủ trang mạng.

Nói vể những người biên soạn Tân Việt Văn thì: ông Bảo Vân (Bùi Văn Bảo) ở Canada vẫn tích cực cổ xúy con em người Việt học tiếng Việt, có dự định xuất bản một quyển Địa lý Việt Nam, gồm những điểm chính yếu, cụ thể về đất nước, quê hương, tôi có giúp ông sưu tầm tư liệu, rất tiếc sách chưa xong thì ông qua đời, các ông Bùi Quang Minh, Chu Đức Nhuận, Nguyễn Mạnh Tuân, Huỳnh Phú Nhiều tôi không có tin tức, anh Lê Tất Điều ở Mỹ, có sách tái bản ở Việt Nam và được độc giả bình chọn sách hay, anh Khánh Linh vẫn ở Tuy Hòa.

Bốn mươi năm, thời gian không lâu, mà biết bao thay đổi, nhưng cũng có những cái còn lại cho mỗi người.

Trần Huiền Ân