SAU HÌNH HÀI THƠ

Chúng tôi xin giới thiệu entry SAU HÌNH HÀI THƠ của Người Kế Môn ( thầy Hoàng Dục ) cựu giáo viên THPT Hoàng Hoa Thám, Thầy bình thơ HÀNH CA CHO NHỮNG NGƯỜI YÊU NHAU của thầy Nguyễn Văn Gia cựu giáo viên trường THPT Thái Phiên :

10389958_1510888812457066_8485956872780579015_n

  Đến với thơ, người đọc luôn ở trong tình huống bị lừa một cách thú vị. Những cú lừa văn chương ấy không làm ai bực mình hay cảm thấy bị sỉ nhục, ngược lại, ai cũng cảm giác hạnh phúc, cảm giác sướng khoái vô biên. Tôi đã từng sướng khoái như thế khi cảm thơ. Và dẫu đã có những trải nghiệm, tôi vẫn bị thơ dẫn dụ vào mê cung của nó, đúng hơn tôi vẫn thích bị phỉnh phờ một cách hồn nhiên khi đọc thơ. Không nói đâu xa, chỉ trong khoảng khắc này, tôi đang sung sướng được bị lừa khi đọc “Hành ca cho những kẻ yêu nhau” của Nguyễn Văn Gia.

     Bài thơ “Hành ca cho những kẻ yêu nhau”, tôi tình cờ đọc được trên blog của Huỳnh Ngọc Chênh. Vừa chạm vào nhan đề, trong tôi dậy lên một cảm giác là lạ. Sao ở thời buổi văn học thế giới đi vào chủ nghĩa hậu hiện đại, tác giả lại để cho tên bài thơ vẫn nằm trong văn học trung đại như vậy. “Hành ca cho những kẻ yêu nhau” vừa giới thiệu thể loại vừa biểu hiện đề tài thơ, có khác gì “Cảm hoài”, “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm”, Vũ trung tùy bút”, “Hoa Tiên truyện”, “Truyện Kiều”… Hay “hành ca” kia là tiếng hát của những tâm hồn lãng mạn, tiếng hát bi tráng, tiếng hát đang nghịch phách với điệu ca khác trong trào lưu thơ Mới. Đó là “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, “Can trường hành” của Trần Huyền Trân, “Hành phương Nam” của Nguyễn Bính. Tôi nghĩ không hẳn như vậy. Có lẽ cái tôi trữ tình trong thơ “Hành ca cho những người yêu nhau” vẫn khác. Cái tôi ấy không ẩn mình sau những hình tượng “lão”, “khách”…, không bay trên đường bay lãng mạn của thời chiến quốc xa xưa.  Cái tôi ấy đang sống vào cái thời hiện đại, một cái tôi có đủ năng lực nhận thức về mình và về cộng đồng, nhưng phải sống giả hình;  một cái tôi mang hoài bão đẹp nhưng phải sống chật chội trong mấy đấu chữ nghĩa khô khốc. Nếu là cái tôi ấy, sao là “hành ca” mà lại hành ca “cho những người yêu nhau” nữa. Đây là một bài thơ trữ tình tình yêu ? Tình yêu thường là điệu slow, boston, valse… sao ở đây lại march ? Chả lẽ, tác giả giục những người yêu nhau phải quấn quýt yêu, phải “mau với chứ, vội vàng lên với chứ” như ông hoàng thơ tình Xuân Diệu…
      Tôi cứ vướng trong nhan đề bài thơ một hồi lâu. Và khi đọc bài thơ, cái ý nghĩ đây là bài thơ tình cũng chưa rũ bỏ được. Thậm chí, tôi có cảm giác, bài thơ là tiếng nói của một tình nhân có những trải nghiệm đắng cay trong tình trường. Thì đây, khi yêu nhau, người ta cùng nhau đặt chân lên quãng đường tình, mở lối vào cái đích cuối là hạnh phúc lứa đôi. Còn nhân vật trữ tình trong bài thơ hình như đang đối diện với sự thực vỡ lỡ, vỡ mộng.Vì thế mà trong bài thơ cộm lên nhưng dòng thơ mang kinh nghiệm đau thương “Dắt nhau đi rồi mà chẳng biết về đâu”. Thực ra, khi yêu cảm xúc lãng mạn xúi giục bước chân người ta ướm trên con đường lãng mạn, không thực. Đó là một tâm lí tình yêu. Lúc ấy người ta mê man bước, để rồi khi tỉnh táo nhìn lại, hai con người yêu nhau hụt hẫng như vừa bị đánh cắp niềm tin “Tay vẫn nắm tay mà niềm tin rạn vỡ”. Để rồi họ tự trách mình sao mãi “lấp lững quanh co”, họ trách những triết gia tình yêu làm họ “bối rối” trong “Mớ lý thuyết suông – Như chiếc áo cũ lỗi thời”. Để rồi khi, người tình nhân kia đếm tuổi thời gian mới giật mình thảng thốt nhận ra thời gian không đứng đợi, nỗi đau tình yêu vẫn còn đó bằng cảm nghiệm da diết :
     Đừng để hạnh phúc cuối đường
Chỉ là
Ảo ảnh lừa nhau
.

      Nhưng rồi tôi bỗng hoài nghi chính tôi nên đọc lại bài thơ. Đúng là tôi đã bị cái nhan đề làm lạc hướng thụ cảm. Tôi bị lặm chữ, lặm vào cái cái định kiến của chính tôi. Tôi biết đâu rằng thơ ca lắm lúc là một trò chơi ngôn từ. Ngôn từ trong tay nhà thơ là con xúc xắc. Nhà thơ cho người đọc thấy một mặt qua hình thức ngữ ngôn của thơ, còn năm mặt kia khuất lấp, bàng bạc trong cái mặt thấy được đó. Nhận ra điều này tôi mới hiểu Nguyễn Văn Gia đã tạo được một cú lừa rất có duyên. Hóa ra, những người yêu nhau trong nhan đề bài thơ, dọc theo hình hài bài thơ ấy, không thể hiểu bó hẹp trong tình yêu đôi lứa. Chữ “yêu” ở đây hiểu theo nghĩa rộng, đó có thể là tình yêu của con người dành cho một sự vật hiện tượng, lí thuyết, một trào lưu, một chủ nghĩa,… “Yêu” cũng có nghĩa là đi chung với nhau trên một con đường để đến một cái đích nào đó.
      Chính vì vậy, Nguyễn Văn Gia mở bài thơ bằng quy luật của hoạt động đi:
      Lẽ thường
Ra đi là phải biết đi đâu
Không thể trù trừ giữa ngã ba ngã bảy
Không thể bắt mây kia ngừng trôi
Và sông kia ngừng chảy
Để vẽ hươu vẽ vượn một chân trời
Dắt nhau đi rồi mà chẳng biết về đâu
Săm soi mãi con đường không có thực.

      Nguyễn Tuân từng nói một cách dí dỏm :  “Đi là có nơi nào để đến”. Đúng như thế không ai đi mà cứ bâng khuâng : “Ta đi nhưng biết về đâu chứ?” (Nguyễn Bính). Chỉ những kẻ ảo tưởng về năng lực chính mình, họ mới tin rằng có thể bắt thời gian ngừng lại để vẽ ra hình ảnh cái đích đến theo trí tưởng tượng nhằm tự huyễn hoặc chính họ và mọi người đó là cái đích đến có thực, rất thực. Nhưng thực ra, đó cũng chỉ là “vẽ hươu vẽ vượn một chân trời”. Một người ra đi “là phải biết đi đâu”, hai người ra đi, nhiều người ra đi điều đó càng hệ trọng hơn, nhất là khi đã “dắt nhau đi rồi”. Chân đã ướm trên con đường thời gian, nhưng trí nghĩ cứ “săm soi mãi con đường không có thực” đó là bi kịch, là một đại nạn.  
     Và tệ hại hơn, khi nhiều người đi trên một con đường, chân có vẻ chung lối nhưng tâm hồn không hòa hợp, ngoảnh mặt lại với nhau. Cái đáng sợ nhất là “Tay vẫn nắm tay mà niềm tin rạn vỡ – Con đường xa chưa thấy một bến bờ”. Trong đời thực, biết bao con người miệng thơn thớt yêu thương, yêu người, nhưng những lời có cánh ấy chỉ là ngôn từ bôi trơn cho một lý tưởng đã hao mòn, cho một tình yêu đã cạn.  Người ta yêu nhau, người ta đi với nhau như những kẻ mộng du. Còn khi tỉnh ra, mới rơi vào trạng thái bối rối, trách các lão triết gia lôi họ vào mê cũng triết lí đã lỗi thời, nhưng rêu rao mãi đó là chân lí.
      Có phải mấy lão triết gia chết tiệt kia
Vẫn còn làm ta bối rối ?
Mớ lí thuyết suông
Như chiếc áo cũ lỗi thời.

     Thế nhưng, họ trách để mà trách, hỏi để mà hỏi. Bởi họ đang tự huyễn hoặc mình vì họ quá tự cao, họ đang “lẽo đẽo theo cái thằng lẹo lưỡi”, nên không tự biết chính họ đang “độc hành”, họ đang quay về cái thời tiền sử, cái nơi chỉ còn là hoài niệm xa xăm của nhân loại. Trong khi đó trên hành tinh này, những người “yêu nhau” đang đi trên một con đường khác, con đường đi tới. Người ta đi trên con đường chung, ai ai cũng ngẩng mặt hân hoan, còn họ mãi cúi mặt “lầm lũi” :
     Con đường ai ai cũng đi tới
Sao ta lại quay lui
Bởi cái ghế cản đường
Hay của nả phù vân cản lối ?
Dòng đời chung mỗi lúc một đông vui
Đường thiên lý
Ai cũng ngại độc hành lầm lủi

     Như thế, trong cái nhìn của Nguyễn Văn Gia, những kẻ gọi là yêu nhau ấy đã đi không đúng quy luật. Trong lòng họ, tình cảm dành cho nhau đang “Nghễnh ngãng như kèo đục vênh”. Đó là một thực trạng não lòng.  Yêu nhau như thế” bằng mười phụ nhau”. Bởi xét cho cùng, tình yêu làm con người đẹp hơn, hạnh phúc hơn, chứ không phải đẩy nhau vào sự vô vọng :
     Để mà chờ
Để mà đợi
Đừng để hạnh phúc cuối đường
Chỉ là
Ảo ảnh lừa nhau
.

     Ai sống trăm năm để đợi để chờ… một ảo ảnh. Giọng thơ chân thành, đầy xót xa và rất nhân văn. 
 

Người Kế Môn
(Thầy Hoàng Dục)

Đà Nẵng – Cõi Bén Tình Thơ

 

Cảm nhận văn chương của thầy Hoàng Dục trích trong tập PHẢI LÒNG CON CHỮ

Đã có những thời rất dài, thơ Việt Nam hiện ra trước mắt bạn đọc với bộ mặt nghiêm trang, nhưng vào khoảng những năm 70 của thế kỉ XX, ở miền Nam, đã xuất hiện những khuôn mặt thơ rất phóng túng từ cách lập ý đến sử dụng ngôn từ. Thơ đã có một điệu nói mang sắc thái trữ tình riêng, có một lối diễn đạt rất hiện thế pha một chút bụi bặm rất đời thường. Đấy là thơ của thế hệ những nhà thơ như: Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Đức Sơn, Hoàng Lộc, Nguyễn Nho Sa Mạc,… họ đã đem vào thơ chất liệu đời thường, nói bằng giọng điệu của giao tiếp hằng ngày, nhưng đã được thi hoá một cách tự nhiên và độc đáo. Họ đã đem chân dung thơ của mình, một chân dung chưa qua photoshop, mà hoà với khuôn mặt tự nhiên của mọi con người giữa cuộc đời tạo nên sự hiện sinh của thơ. Một trong những nhà thơ tạo nên chất đời giản dị cho thơ, đó là Luân Hoán, một Luân Hoán như “…con chào mào mọi bữa – Vẫn đứng một mình đổ giọng véo von” (Làm lành).

Luân Hoán bắt đầu sáng tác năm 1960, xuất bản tập thơ đầu tay “Về trời” năm 1964. Trước năm 1975, ông đã xuất bản năm tập thơ và in chung nhiều tác phẩm với nhiều bạn thơ khác. Sau 1985, định cư ở Canada, ông tiếp tục ra mắt bạn đọc nhiều tập thơ nữa. Thơ ông viết về nhiều đề tài khác nhau, trong đó có đề tài quê hương, Hoà Vang quê gốc, Hội An nơi sinh thành (1941) và Đà Nẵng, mảnh đất đã nuôi dưỡng ông từ 1953, khi còn thơ bé cho đến lúc trưởng thành. Vì thế, Đà Nẵng đã trở thành nguồn cảm hứng thi ca, là một không gian nghệ thuật, một Cõi bén tình thơ của ông. Có lẽ thơ viết về Đà Nẵng của ông rất phong phú, nhưng đáng tiếc là tôi có ít tư liệu quá, không thể tiếp cận được nhiều tập thơ của ông! Cho nên, ở phạm vi bài này, tôi chỉ lạm bàn đến không gian thơ Đà Nẵng – Cõi bến tình thơ của Luân Hoán – qua ba bài: Đà Nẵng (Rượu hồng đã rót, 1974), Ngũ Hành Sơn (Cám ơn đất đá trổ thơ,1991) và Cõi bén tình thơ (Cỏ hoa gối đầu, 1997).

Qua ba bài thơ, hồn thơ của Luân Hoán như bay nhảy trong không gian thơ của thành phố quê hương. Tình thơ của ông tha thiết với từng con đường, ngã tư, những phố, những phường, những xóm, những danh lam thắng cảnh của Đà Nẵng. Đọc những bài thơ viết về Đà Nẵng của ông, người đọc cảm giác như đó là một địa lí thơ. Đà Nẵng là một mảnh đất dồi dào chất phù sa trữ tình, rất giàu cảm xúc thơ, đã trở thành chất liệu thi ca không bao giờ vơi cạn của hồn thơ Luân Hoán. Có thể nói rằng, Đà Nẵng gieo hạt thơ vào mảnh đất tâm hồn màu mỡ của Luân Hoán và đến lượt mình, hồn thơ ấy đã nở ra những bông hoa thơ làm nồng nàn thêm chất thơ Đà Nẵng. Trong Đà Nẵng, nhà thơ tâm tình.

Tiếp tục đọc

XUÂN BÉN CỎ HOA

Chúng tôi vừa được thầy Hoàng Dục -Thạc sĩ văn chương- từng dạy học tại trường Hoàng Hoa Thám ( Đông Giang cũ) gửi tặng cuốn PHẢI LÒNG CÂU CHỮ gồm những bài viết cảm nhận về văn chương do nhà xuất bản Hội Nhà Văn phát hành, cuốn sách gồm 18 bài 152 trang. Chúng tôi đã có lần giới thiệu đến Quý Thầy Cô, anh chị bài Theo Đoàn Quân – Cố Quận Ta Về trên trang Đông Giang .
Hôm nay nhân dịp chuẩn bị đón mừng năm mới, chúng tôi xin giới thiệu bài XUÂN BÉN CỎ HOA của Thầy:


XUÂN BÉN CỎ HOA
Những ngày đợi tết Tây 2013, tìm đọc lại những trang thơ cũ, bỗng mắt tôi chạm vào tập thơ của Hồ Dzếnh do Nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành năm 1997. Lần giở tập thơ, lòng tôi như mơ hồ thương nhớ những ngày tháng cũ vào những năm cuối của thập niên 60 của thế kỉ trước; nhất là khi đọc bài thơ “Chiều xuân Trung kì” của Hồ Dzếnh.
Mắt lướt trên những dòng thơ mà lòng tôi rưng rưng nhớ lại những ngày giáp Tết, nằm ở nhà Phan Văn Dinh đọc những tác phẩm của các tác giả tiền chiến. Ngoài kia, biển Thanh Bình đang rì rào vỗ sóng. Trong căn nhà vách ván vắng lặng nhưng thân thiện, mỗi đứa nằm một góc, mê mải tưới tẩm tâm hồn mình bằng những dòng văn, những câu thơ lãng mạn trong lành. Lúc ấy, cả hai đứa tôi còn là học sinh trung học, cái tuổi mà tâm hồn luôn căng lên và rất dễ dàng nghiêng chao theo nhịp điệu gió mây. Cho dù trí nghĩ lúc nào cũng muốn neo bám vào hiện thực cuộc sống nhưng tâm hồn tôi lại cứ chực chờ chuyển mình bay lên, nhập vào cõi “êm êm chiều ngẩn ngơ chiều” hay “Thiên Thai thoảng gió mơ mòng”. Tôi không nhớ ngày ấy Phan Văn Dinh đọc tác phẩm gì, hình như “Chiếc cáng xanh” của Lưu Trọng Lư thì phải, còn tôi thì mê man thả hồn theo “Việt Nam thi nhân tiền chiến” của Nguyễn Tấn Long – Nguyễn Hữu Trọng. Và tôi đã gặp thi sĩ Hồ Dzếnh trong một buổi chiều lữ thứ, rồi cảm giác nhà thơ đã nói hộ tôi nỗi lòng của kẻ xa nhà :
Tôi là người lữ khách
Màu chiều có làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây

Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói buồn bay lên cây…
(Chiều)

Tiếp tục đọc

SAU HÌNH HÀI THƠ


.

Chúng tôi xin giới thiệu đến Quý anh chị bài SAU HÌNH HÀI THƠ của thầy Hoàng Dục -Thạc sĩ Văn Chương, nguyên giáo viên Hoàng Hoa Thám- qua bài thơ HÀNH CA CHO NHỮNG KẺ YÊU NHAU của anh Nguyễn Văn Gia mà chúng tôi đã có dịp đăng lên trang ĐG-HHT

Đến với thơ, người đọc luôn ở trong tình huống bị lừa một cách thú vị. Những cú lừa văn chương ấy không làm ai bực mình hay cảm thấy bị sỉ nhục, ngược lại, ai cũng cảm giác hạnh phúc, cảm giác sướng khoái vô biên. Tôi đã từng sướng khoái như thế khi cảm thơ. Và dẫu đã có những trải nghiệm, tôi vẫn bị thơ dẫn dụ vào mê cung của nó, đúng hơn tôi vẫn thích bị phỉnh phờ một cách hồn nhiên khi đọc thơ. Không nói đâu xa, chỉ trong khoảng khắc này, tôi đang sung sướng được bị lừa khi đọc “Hành ca cho những kẻ yêu nhau” của Nguyễn Văn Gia.

Bài thơ “Hành ca cho những kẻ yêu nhau”, tôi tình cờ đọc được trên blog của Huỳnh Ngọc Chênh. Vừa chạm vào nhan đề, trong tôi dậy lên một cảm giác là lạ. Sao ở thời buổi văn học thế giới đi vào chủ nghĩa hậu hiện đại, tác giả lại để cho tên bài thơ vẫn nằm trong văn học trung đại như vậy. “Hành ca cho những kẻ yêu nhau” vừa giới thiệu thể loại vừa biểu hiện đề tài thơ, có khác gì “Cảm hoài”, “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm”, Vũ trung tùy bút”, “Hoa Tiên truyện”, “Truyện Kiều”… Hay “hành ca” kia là tiếng hát của những tâm hồn lãng mạn, tiếng hát bi tráng, tiếng hát đang nghịch phách với điệu ca khác trong trào lưu thơ Mới. Đó là “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, “Can trường hành” của Trần Huyền Trân, “Hành phương Nam” của Nguyễn Bính. Tôi nghĩ không hẳn như vậy. Có lẽ cái tôi trữ tình trong thơ “Hành ca cho những người yêu nhau” vẫn khác. Cái tôi ấy không ẩn mình sau những hình tượng “lão”, “khách”…, không bay trên đường bay lãng mạn của thời chiến quốc xa xưa. Cái tôi ấy đang sống vào cái thời hiện đại, một cái tôi có đủ năng lực nhận thức về mình và về cộng đồng, nhưng phải sống giả hình; một cái tôi mang hoài bão đẹp nhưng phải sống chật chội trong mấy đấu chữ nghĩa khô khốc. Nếu là cái tôi ấy, sao là “hành ca” mà lại hành ca “cho những người yêu nhau” nữa. Đây là một bài thơ trữ tình tình yêu ? Tình yêu thường là điệu slow, boston, valse… sao ở đây lại march ? Chả lẽ, tác giả giục những người yêu nhau phải quấn quýt yêu, phải “mau với chứ, vội vàng lên với chứ” như ông hoàng thơ tình Xuân Diệu… …

Tiếp tục đọc

ĐÓNG CỬA DẠY NHAU

 

Nhớ lại, khi nhận quyết định rời bục giảng, mình vui quá đã lếu láo ngâm cuồng : “Sung sướng quá, giờ nghỉ hưu đã đến – Một lão ông sáu chục hả hê cười – Từ bây giờ cởi trói cuộc đời tôi – Ôi tất cả niềm vui đang hứa hẹn”. Để rồi sau đó, tĩnh tâm lại, đành thầm xin nhà thơ Xuân Tâm thứ tội! Dù không đi lập am nhàn, nhưng đã hưởng được cái thú “trăng đến trước cửa”. Hơn một năm rồi, lòng mình cũng đã khỏe
nhẹ rất nhiều. Vậy mà, mấy ngày nay đọc Thông tư sửa đổi, bổ sung một một số điều của Quy chế thi tốt nghiệp THPT của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà lòng không vui. Mình cứ vẩn vơ mãi và rồi mới “ngộ” ra rằng, về nghỉ nhưng không phải nghỉ mà luôn luôn nghĩ. Làm sao anh có thể không nghĩ khi anh là một con người.
Mới năm nào đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo hô to gọi giật chống bệnh thành tích, chống gian lận trong thi cử, nay lại hãm phanh bằng Điều 42a của Thông tư 04. Ở điều này, Bộ quy định việc “xử lý thông tin phản ánh về tiêu cực trong kỳ thi” như sau : “Người có bằng chứng về vi phạm quy chế thi không được phát tán thông tin cho người khác, dưới bất kỳ hình thức nào. Bằng chứng về việc vi phạm quy chế thi tốt nghiệp THPT phải nộp cho cơ quan có thẩm quyền. Cụ thể, nơi tiếp nhận thông tin bằng chứng về vi phạm quy chế thi là Ban chỉ đạo thi tốt nghiệp THPT Trung ương hoặc Ban Chỉ đạo thi cấp tỉnh (thành phố) và Thanh tra giáo dục các cấp”. …

Tiếp tục đọc

THƠ TRONG KHÔNG THƠ

1. Ngay từ tấm bé, tôi đã từng nghe kể câu chuyện tiếu lâm ba anh học trò dốt làm thơ – bài thơ con cóc. Đây là bài thơ được Trương Vĩnh Ký sưu tầm, in trong tập Truyện đời xưa xuất bản lần đầu tiên năm 1866. Rồi lớn lên một chút, tôi lại nghe người ta sử dụng thành ngữ “Thơ con cóc” để chê bai, cười cợt những ai làm thơ nhưng thiếu cảm xúc, không có chất hoa mĩ của ngôn từ, hoặc ý nghĩa nông sờ, hoặc sáo rỗng. Tôi nghe mãi nên thành ám ảnh đến nỗi không dám làm thơ dù lắm lúc cảm xúc muốn tràn ra lênh láng, thậm chí đọc thơ của một nhà thơ nào đó không thực sự có được sự rung cảm, tôi gọi bài thơ ấy là thơ con cóc, nhà thơ ấy là nhà thơ con cóc nữa. Và rồi, bài thơ con cóc hiện ra thế chỗ cho bài thơ tôi vưa đọc :

Con cóc trong hang
Con cóc nhảy ra
Con có nhảy ra
Con cóc ngồi đó
Con cóc ngồi đó
Con cóc nhảy đi.

Tiếp tục đọc

NGHẸN VỚI “TRĂNG NGHẸN” CỦA HOÀI TƯỜNG PHONG

Tháng 3 năm 2010, Blog ĐG-HHT có giới thiệu bài Trăng Nghẹn của Hoài Tường Phong, bài thơ gây xôn xao dư luận vì bài thơ được Hội Văn học – Nghệ thuật trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu long công bố giải Nhất nhưng sau đó phải rút lại. Hôm nay chúng tôi xin giới thiệu entry về cảm nhận của thầy Hoàng Dục đối với Trăng Nghẹn mà như thầy đã nói " tôi thích bởi bài thơ ít nhiều nói hộ lòng tôi ". Rồi khi ngồi đối bóng mình trong phòng văn yên tĩnh thầy cảm thấy lòng nghẹn với "Trăng nghẹn" của Hoài Tường Phong.

NGHẸN VỚI "TRĂNG NGHẸN" CỦA HOÀI TƯỜNG PHONG

Tôi gặp "Trăng nghẹn" của Hoài Tường Phong từ năm 2010. Từ đó, bài thơ đã âm thầm bước vào sinh hoạt tinh thần của tôi. Để rồi, ở hoàn cảnh này, một câu thơ hiện lên da diết, ở hoàn cảnh kia, một vài câu cứ giăng tơ rối rắm trong lòng tôi. Và cũng có lúc ngồi với học trò của mình, khi thì chiêm nghiệm một câu thơ, khi thì để cho bài thơ xát lòng thổn thức. Có anh bạn đồng nghiệp biết chuyện, bảo tôi sao liều thế. Bài thơ này khi chấm và trao giải “Cuộc thi thơ Đồng Bằng sông Cửu Long 2009” đã thậm thòi thậm thụt nhiêu khê lắm lắm. Giải đã công bố rồi mà yêu cầu rút giải, từ chối giải rối bời lên! Tôi bảo, mặc kệ chuyện giải, chuyện giếc, mình thấy có văn bản nào cấm đâu, cho nên thích là đem thơ vào những giây phút tâm tình. Âu đó cũng là bệnh của người dạy văn. “Đánh chết cái nết không chừa”! …

Tiếp tục đọc

LUC EMMANUEL của HD

Nhân dịp Giáng sinh 2012, chúng tôi xin giới thiệu entry của thầy Hoàng Dục viết về Linh mục Nguyễn Tấn Lục ( CHS Đông Giang K2, từ năm 1964 đến năm 1968 anh chuyển sang trường Phan Châu Trinh)

Cuộc sống có lẽ rất cần những phút tình cờ, những khoảnh khắc ngẫu nhĩ. Nếu không mọi điều, mọi chuyện, mọi cái nhỏ nhặt và kể cả to lớn cứ bằng lặng như nước xuôi. Cuộc sống bình an một cách đơn điệu và tẻ nhạt biết bao. Lúc ấy chắc cũng nhìn trời mà than như Huy Cận :

Quanh quẩn mãi cũng vài ba dáng điệu
Tới hay lui cũng chừng nấy mặt người

Tiếp tục đọc

NGƯỜI THẦY – TỪNG SỢI TÓC BẠC MÀU TRUÂN CHUYÊN

Nhân Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20.11, chúng tôi xin giới thiệu bài " NGƯỜI THẦY – TỪNG SỢI TÓC BẠC MÀU TRUÂN CHUYÊN " của thầy Hoàng Dục nguyên giáo viên trường Đông giang – Hoàng Hoa Thám sau 75.

NGƯỜI THẦY – TỪNG SỢI TÓC BẠC MÀU TRUÂN CHUYÊN

Nhiều khi ngồi giữa phòng sách, chung quanh không một ai, mình bỗng tưởng mình là một lão triết gia.
Không triết gia sao được khi khuôn mặt cứ trầm tư, đôi mắt giăng mắc ngang dọc những sợi suy tư, vầng trán lồi lõm những đường rãnh ưu tư, đôi môi bặm lại đến tím tái vì “bất khả tư nghì” mặc dầu “như thị ngã văn” lắm lắm chuyện đời, tấm thân chỉ một tư thế bất động nhưng xem ra tư duy không “tư vô tà” chút nào. Ngoại hình là như thế, còn tâm giới thì tư tưởng này xẹt qua như sao băng, tư tưởng kia chớp lóa như ánh sét, có khi tư và tưởng va đập vào nhau tạo nên “ánh hồ quang” trí tuệ, tưởng chừng chạm được vào bản thể của sự vật hiện tượng nhưng hóa ra lại lạc lối trong cõi u minh của tâm hồn. Vậy là, nói theo kiểu triết học, xét đến cùng, mình chỉ là một lão triết gàn thôi.
Lão triết gàn hay lão gàn nói chuyện triết cũng thế… là rất đúng với mình. Nhiều khi mình cứ đem những chuyện không đâu vào cái đầu bé tẹo, bắt trí óc phải cật lực chẻ vấn đề ra, lật ngược lật xuôi, săm soi đi tìm bản chất của nó là gì. Nhưng rồi, mọi chuyện cứ “gió theo lối gió, mây đường mây”, chẳng đâu vào đâu, chẳng phải “đầu Ngô” cũng không “mình Sở” gì cả. Chẳng hạn như, đã rất nhiều lần mình tự dặn lòng phải biết vâng lời các triết gia : “Đừng hoài nghi con người”, nhưng lại cứ hồ đồ về con người! Mình cứ như gà mắc tóc, loay hoay về cái gọi là lí trí và tình cảm của con người. Trong mối quan hệ giữa lí trí và tình cảm của con người, mình cho đó là một cặp mâu thuẫn, có khi mình nghĩ cả hai thống nhất với nhau, có lúc lại cho rằng lí trí đứng trên, đứng ngoài, chế ngự rồi “cười cợt” với tình cảm; lại có lúc quay ngược ý nghĩ, không, tình cảm luôn “ngạo nghễ” trước lí trí vì cao cả hơn,… Và cũng nghĩ, trong một con người, có lúc bề ngoài rất tình cảm nhưng bên trong lại rất lí trí, có lúc bên ngoài lạnh lùng nhưng bên trong lại rất thiết tha… Nhưng rồi chất vấn mình : có khi nào cả hai đang diễn trò, cái này là “mặt nạ” của cái kia không ?… Rồi từ đó lan man, gàn dở mà bảo : cái giả, cái thật trong văn hóa ứng xử, trong lối sống của con người phần nào đó là do trạng thái không cân bằng giữa lí trí và tình cảm này. Không biết đó có phải là do mình võ đoán không, dù võ đoán có là một kiểu tư duy mang màu sắc triết học đi nữa ? Nhưng nghĩ lại, nhìn bản thân mình với sự thật từ sự trải nghiệm thì xem chừng võ đoán ấy cũng có cái lí của nó. Vậy thì mình sẽ lấy mình làm cứ liệu để làm sáng rõ cái suy tư mang màu sắc “triết học” của một lão gàn nói trên. …

Tiếp tục đọc