DƯỚI CỎ MÙA ĐÔNG

.
.
Mẹ nằm dưới cỏ mùa đông
Co ro một dải đất đồng lạnh run
Đắp chăn cho mẹ – mưa phùn
Dỗ ngàn năm – tiếng mối đùn dưới lưng

Con quỳ trước cỏ rưng rưng
Bàn tay che ngọn bấc đừng thổi qua
Lửa đâu hong tóc mẹ già
Thân này cháy được xin là củi than

Nhớ hôm đèn lụi, bấc tàn
Nghiêng vai trút gánh gian nan mẹ về
Con còn chưa tỉnh cơn mê
Liêu xiêu bước giữa bốn bề cỏ gai

Lạy trời mau đến giêng, hai
Mượn chăn cỏ đắp hình hài lạnh căm
Nắng lên ấm chỗ mẹ nằm
Con ngồi ru giấc ngàn năm cho người

Huỳnh văn Mười – K7
Tháng 10/2017

KÝ ỨC RẠ

.
.
Gốc rạ bén xanh ngày con nước rút
Hạt phù sa ôm chân cỏ ven bờ
Mây giấu tóc gốc rơm buồn rũ mục
Gió buông lời quanh ngọn nến bơ vơ

Thềm rêu cũ dấu chân ngày con trẻ
Mướp cong queo dáng mẹ nhói hoa vàng
Mẹ líu quíu lửa rơm cười nhễ nhại
Khói nghẹn ngào cay xé mắt thời gian

Ta nặng nợ cùng quê, cùng con đất
Giếng khơi trong ai thả nhớ nghìn trùng
Soi bóng thấy dư thừa râu tóc trắng
Ngoảnh mặt vào câm lặng nước rung rung

Gối đã mỏi trong màu chiều nắng vãn
Gió ngày xưa lạnh ngắt đến bây chừ
Xin gởi chút nghĩa ân vào gốc rạ
Ta cúi đầu xuống trăm ngã ưu tư.

HUỲNH VĂN MƯỜI K7

NHỚ QUÊ

.
.
Có gì ngờ ngợ trong tôi
Ở quê mà cứ đứng ngồi nhớ quê
Vẫn bờ cỏ, vẫn triền đê
Mà như hồn phách trôi về đâu đâu
Vôi buồn loang trắng ngọn cau
Mẹ không còn để dây trầu lên xanh
Cha không còn giọi mái tranh
Khói lam chiều đã hóa thành cổ thi
Dây bìm vắng tiếng chim ri
Hình như mắt lá có gì cay cay
Vốc từng bụm thóc trên tay
Nhớ ơi thậm thịch tiếng chày giữa khuya
Sảy sàng xoay cái vành nia
Trăng non nhớ tiếng gàu khua giếng làng
Đã đành thế cuộc sang trang
Cớ sao tôi vẫn bàng hoàng nhớ tôi
Nhớ đôi guốc chỗ chị ngồi
Tiếng ru đưa bốn tao nôi ngập ngừng
Bây giờ mùa đã sang xuân
Tôi ngồi vuốt lại nếp buồn sáu mươi
Chưa đi đã méo nụ cười
Ở quê mà giống như người ly hương

Huỳnh Văn Mười – K7

CẢM XÚC THÁNG CHẠP

.
.
Khẽ khàng rây mưa tháng Chạp
Trạng nguyên đỏ sắc mặt trời
Hiên xưa biếc màu rêu cũ
Lộc vừng một thoáng rơi rơi

Nôn nao dậy thì hoa cúc
Rắc vàng lên nụ heo may
Cánh chim cuối mùa di trú
Về thương một nhánh sông gầy

Cây nêu lặn vào cổ tích
Cùng câu đối đỏ, dưa hành
Xa rồi mái tranh, khói bếp
Mẹ ngồi đếm lại ngày xanh

Tiếng gà vắt ngang sương sớm
Dường như có chút bồi hồi
Tinh mơ em về nhà Thánh
Rộn ràng áo trắng tinh khôi

Cuối năm dọn mình sám lễ
Đất Trời mở lượng bao dung
Hồn say trong men ân tứ
Con tim đập nhịp vô cùng

Huỳnh Văn Mười – K7

THÀ NHƯ

.
.
Thà như đá sỏi lặng câm
Để thôi luyến khúc phù trầm nhân gian
Vẫy tay biệt phố lên ngàn
Chiều buông khe khẽ tiếng tràng hạt reo
Quê xưa khuất núi, khuất đèo
Muốn về thì tự chống chèo qua sông
Quẩn quanh chi đám bụi hồng
Đến như đá cũng chảy ròng mồ hôi
Thà như cỏ dại ven đồi
Đêm nghe tiếng dế hát lời vô tư
Vói tay hái quả đại từ
Vo tròn một mảnh phù hư trả người
Thà chưa biết khóc, biết cười
Biết trăm năm ấy phận người giả, chơn
Thắp yêu thương, xóa giận hờn
Một mai nằm xuống nhẹ tơn nỗi người

Huỳnh Văn Mười – K7
(Hai câu cuối nguyên của mình là:
” Biết yêu thương, biết giận hờn
Để mai nhắm mắt sạch trơn nỗi người”
Còn 2 câu trong bài nầy là theo ý của Mùa Lặng)

VỊ NGỌT PHÙ SA

.
.
Rồi con nước cũng xuôi về phía biển
Còn lắng trên vết bùn vị ngọt phù sa

Còn trên cọng rơm vàng giọt nắng tháng ba
Và cơn mưa cuối chiều lang thang đi tìm bến đỗ
Mưa với nắng gặp nhau thành duyên nợ
Để hóa thân trong hạt gạo no tròn

Đất hiến mình trong biếc hạt ngô non
Trên vệt muối mồ hôi vai áo mẹ
Vệt mồ hôi vẽ nên hình sông bể
Con giong buồm bơi suốt cả trăm năm

Lá dâu nuôi khát vọng một thân tằm
Nên sắc lụa pha nắng vàng óng ánh
Nên chiu chắt từng sợi tơ mỏng mảnh
Nối ân tình buổi trước với nghìn sau

Bông bưởi thơm trong thau nước gội đầu
Nên chẳng trách mùa xuân dài đến thế
Nên hơi thở mùa thu lay thật khẽ
Mắt ai sâu thăm thẳm đến vô cùng

Đêm chong đèn thao thức với dòng sông
Thân cửa biển mà phách hồn ở đó
Nghe âm vọng tiền nhân trên vạn cỏ
Nơi vết bùn lắng ngọt vị phù sa

HUỲNH VĂN MƯỜI – K8

MÙA VỌNG

.

Hãy đốt lên em!
Ngọn nến đầu tiên màu tím
Vóc hao gầy điểm xuyết lá thông xanh
Ta nắm tay nhau hướng về mùa vọng
Qua đớn đau, phía trước sẽ an lành

Ngọn nến thứ hai cũng màu tím nhé
Cho lửa oan hờn lụi tắt giữa đôi tay
Cho mặt đất tan nhanh ngày bão dữ
Trên quê hương thôi hết cuộc lưu đày (*)

Ngọn nến thứ ba màu hồng- hy vọng
Cây sẽ xanh biêng biếc giữa điêu tàn
Mẹ ôm con qua mấy lần khô lệ
Ta lại về rũ bỏ áo, khăn tang

Ngọn nến cuối cùng em đốt lên màu tím
Để anh em đứng ngẩng cao đầu
Sẽ bạt hết cuồng điên và tham vọng
Sau lạc loài ta sẽ nhận ra nhau

Em sẽ thấy ngày cuối cùng phán xét
Những bàn tay điểm mặt hết Giu-đa
Vùi cho hết những tận cùng dối trá
Còn trên tay hoa trắng nở thật thà

Huỳnh Văn Mười K7
* (Gr 33,14-16), ngôn sứ Giêrêmia bảo đảm với dân Israel là Thiên Chúa sẽ sai Đấng Messia đến giải thoát họ khỏi cảnh lưu đày. Đó là lần thứ nhất Chúa đến.

CỎ LÁ

 

Sóng đời giăng bủa quanh quanh
Soi đèn tìm ngọn gió lành hiếm hoi
Ta thân lá cỏ mệt nhoài
Bão giông xin đậu ra ngoài non tơ
Rớt khuya một khoảnh trăng hờ
Gót chân du tử đợi giờ phục sinh
Nắng lên gọi cuộc đăng trình
Giật mình, mình biết có mình ở đây
Xin nhè nhẹ một bàn tay
Mảnh mai sợi khói chiều nay ngậm cười
Sáng mai quỳ xuống ơn Người
Xin nhân gian nỗi ngậm ngùi bớt xanh

Huỳnh Văn Mười K7

 

KHÚC RU

.

Cái ngủ mầy ngủ cho ngoan
Mẹ còn đi chợ đò ngang sông chiều
Cánh cò quạt tóc liêu xiêu
Con cua, cái cáy bước liều vào thơ
Mẹ đi từ sáng tinh mơ
Gánh tiền khiên đổ xuống bờ sông sâu
Cái ngủ… mầy ngủ cho lâu
Để chị gánh nước rửa câu lụy phiền.
Bóng cau ngã xuống trần duyên
Ngủ đi trặng lặn qua miền cỏ xa
Cái đũa… là đũa thật thà
Gắp đôi sợi tóc buộc qua tình người
À ơi… cái ngủ thật tươi
Đêm đông văng vẳng nụ cười tháng giêng
Ngủ đi cái ngủ thật hiền
Câu thơ lặn lội bên triền áo cơm
Mái nhà thiếu một cọng rơm
Để trưa nắng lọt miếng cơm khô rồi
Cơm khô cho kiến… à ơi
Ngủ đi thật chín cho đời tỉnh ra

Huỳnh Văn Mười K7

TẠ ƠN

 

Tạ ơn Thầy đã cho con mảnh hình hài không khuyết tật
Dẫu còng lưng vùng vẫy cuộc mưu sinh
Đời muốn dúi xuống tận cùng xơ xước
Con ngoi lên để nhận diện chính mình
.
Tạ ơn Thầy đã cho con cái đầu không tâm thần phân liệt
Một chút thông minh không đến nỗi khù khờ
Cũng biết gạn cái hư tìm cái thực
Cũng liều mình múa bút giữa vườn thơ
.
Tạ ơn Thầy đã cho con hai bàn tay nguyên vẹn
Giữa muôn phương con biết lật phương nào
Cũng biết nắm những gì cần thiết nắm
Biết buông rồi những sấp ngửa lao xao
.
Tạ ơn Thầy đã cho con tất cả
Làm đèn soi bước khỏi chốn u mê
Con sẽ đợi cái ngày quay trở lại
Khi Thầy đưa tay âu yếm gọi con về
 
Huỳnh Văn Mười K7