Ngày 30 tháng 4 đọc lại “Cuốn theo chiều gió ” (Margarett Mitchell)

Hà Thị Lệ Hà K8

Với người yêu văn chương Việt Nam và thế giới, “Cuốn theo chiều gió ” (Gone with the wind) của Margarett Mitchell là một tác phẩm quá quen thuộc . Ra đời năm 1936, cuốn tiểu thuyết đầu tay và duy nhất của nhà văn nữ người Mỹ này nhanh chóng thu hút sự chú ý và tình cảm của hàng triệu bạn đọc trên thế giới, được dịch ra hàng chục thứ tiếng, được dựng thành phim, được đưa vào giảng dạy ở hệ thống nhà trường nước Mỹ với sự say mê và hãnh diện của hàng bao thế hệ học sinh.

Một cuốn sách có độ dài hơn một nghìn trang. Toàn bộ nội dung của nó được đặt gần như trọn vẹn trong bối cảnh lịch sử của cuộc chiến tranh Nam _Bắc Hoa kỳ (1861_1865). Sở dĩ gọi là chiến tranh Nam-  Bắc  vì đó là cuộc chiến diễn ra giữa hai phe: phe miền Bắc (còn gọi là phe liên bang) đứng đầu là Tổng thống nước Mỹ Abraham Lincoln, ông ta chủ trương xóa bỏ buôn bán nô lệ người da đen và phe miền Nam chủ yếu là giới quý tộc,  những ông chủ của những đồn điền bông vải rộng mênh mông ở miền Nam chống lại chủ trương này.  Nhân vật chính là Scarlett O’Hara, con gái chủ đồn điền Tara  giàu có. Cô thiếu nữ này không quá xinh đẹp, nhưng nam giới lại không mấy khi nhận ra điều ấy vì  ngay từ đầu họ đã bị choáng ngợp, cuốn hút bởi sự thanh lịch duyên dáng của nàng, đặc biệt bởi vòng eo bốn mươi hai phân rưỡi, vòng eo thanh mảnh nhất xứ Georgia.

Đó là một chiều nắng tháng tư năm 1861, vài ngày trước khi chiến tranh xảy ra. Scarlett O’Hara mới mười sáu tuổi, yêu kiều  trong một cái váy áo mới bằng sa- tanh có điểm hoa xoè rộng mười một thước , đang ngồi tán gẫu với các bạn trai láng giềng dưới bóng mát Tara, đồn điền của cha nàng. Cô thiếu nữ đang rất háo hức vì sắp được tham gia một cuộc dạ vũ mà cô luôn là một tâm điểm. Bất ngờ, cô lại nghe tin  Ashley Wilkes  -người mà cô thầm yêu đã lâu – sắp làm lễ đính hôn với cô em họ là Melanie Hamilton ở Atlanta.

Điều bất ngờ đó khiến Scarlett O’Hara cảm thấy bắt đầu là một sự choáng váng và sau đó là một nỗi thống khổ không sao dứt ra được. Cô vẫn nghĩ Ashley Wilkes từ lâu đã yêu mình, chỉ là chưa dám nói ra. Với bản tính  nhiệt cuồng, bướng bỉnh và kiêu kỳ, Scarlett O’Hara quyết tâm trong buổi tiệc tối ngoài trời sẽ bày tỏ tình yêu với Ashley Wilkes và nghĩ tới cả chuyện sẽ  rủ  chàng cùng trốn đi. Ngược lại với mong đợi của Scarlett O’Hara, chàng trai trẻ đáng yêu Ashley Wilkes mặc dù vẫn ân cần tử tế với nàng nhưng vẫn nói rằng mình sẽ cưới Melanie Hamilton. Rhett Butler, vị khách không mời vô tình chứng kiến tình cảnh thê thảm của Scarlett O’Hara buông lời trêu chọc khiến  cô xấu hổ đến nổi điên lên. Sau đó, lại nghe vợ sắp cưới của Charles Hamilton nói xấu mình, trong cơn tức giận, Scarlett O’Hara quyết định kết hôn với Charles Hamilton. Buổi tiệc kết thúc cũng là lúc tin cuộc chiến tranh Nam Bắc bắt đầu và các chàng trai hăng hái nhập ngũ.

 Giận hờn, tự ái rồi lấy chồng, tất cả quá vội vàng, nhanh chóng khiến Scarlett O’Hara khi còn chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì Charles Hamilton đã  qua đời vì dịch bệnh trong quân ngũ. Trở thành góa phụ, rồi có con khi mới mười sáu tuổi, chịu mọi sự ràng buộc cấm đoán nặng nề của lề lối xã hội nhưng Scarlett O’Hara vốn khát sống không chịu nép mình khuất phục  . Vào tháng 5 năm 1862, Scarlett chuyển đến ở với Melanie Hamilton  ở thủ đô Atlanta. Ở đây, Scarlett O’Hara gặp lại Rhett Butler, lúc này đã trở thành một thuyền trưởng vượt phong tỏa, một thương nhân chuyên buôn lậu và đầu cơ rất giàu có.

Cuộc chiến tranh Nam – Bắc diễn ra theo chiều hướng này càng bất lợi cho phe miền Nam. Nhiều cuộc tấn công dữ dội diễn ra. Atlanta bị bao vây. Melanie  sinh con. Hoàn cảnh khó khăn khiến Scarlett phải cầu cứu Rhett Butler. Trên đường chạy trốn khỏi Atlanta, Rhett Butler nói yêu Scarlett nhưng nàng từ chối.

Chiến tranh gần kết thúc. Scarlett O’Hara trở về Tara. Đồn điền Tara giờ đây đổ nát hoang tàn vì không người chăm sóc. Mẹ mất, cha loạn trí, hai người em gái bệnh nằm liệt giường, người làm bỏ đi gần hết. Chỉ còn một mình Scarlett O’Hara, cô tiểu thư kiêu kỳ bé nhỏ ngày nào phải chống chọi với tất cả, cô làm  mọi việc quần quật như một nô lệ  để có miếng ăn cho cả gia đình, kể cả vợ và đứa con mới vừa được sinh ra của Ashley Wilkes . Thậm chí có lần để bảo vệ Tara, Scarlett O’Hara phải liều lĩnh cầm súng bắn chết một tên lính Yankee mò đến đồn điền để ăn cắp. Cô sẵn sàng làm mọi điều  kể cả những điều khiến mọi  người  và chính bản thân cô khinh ghét, miễn là để những người thân yêu của cô được sống, miễn là để vực dậy được Tara, vùng  đất đai thân thiết mà trước đây người cha đôn hậu của cô đã đổ mồ hôi để khai phá và quý yêu như máu thịt của mình .

Chiến tranh kết thúc. Thế nhưng đó lại là lúc Scarlett O’Hara phải đối mặt với nguy cơ mất trắng Tara vì chính phủ mới tăng tiền đóng thuế đồn điền gấp nhiều lần và nàng không có tiền nộp thuế. Scarlett O’Hara đến gặp Rhett và sắp thuyết phục được chàng để mượn tiền thì Rhett Butler phát hiện nàng nói dối. Trong cơn tuyệt vọng, tình cờ Scarlett O’Hara gặp lại Frank Kennedy, chồng chưa cưới của Suellen, em gái nàng. Scarlett O’Hara tìm cách quyến rũ và lấy Frank Kennedy làm chồng để có tiền cứu Tara.

Tara dần hồi sinh. Rhett Butler lại cho Scarlett O’Hara mượn tiền để mở một xưởng cưa. Lúc này Ashley Wilkes  đã được trở về và nghe lời khuyên của Melanie Hamilton, chàng ở lại Atlanta giúp Scarlett O’Hara điều hành xưởng cưa.

Scarlett O’Hara có với Frank Kennedy một đứa con gái mặc dù cô không mấy mong muốn. Có con nhỏ nhưng Scarlett O’Hara vẫn thường xuyên ra ngoài làm đủ mọi việc để kiếm thật nhiều tiền mặc dù tình hình an ninh sau chiến tranh không ổn định. Một ngày, nàng bị một tên da trắng nghèo khổ và một nô lệ da đen vừa mới được giải phóng tấn công và suýt bị hãm hiếp. Frank Kennedy và Ashley Wilkes  và một nhóm người đều là thành viên của đảng 3K tức giận đi trả thù. Hậu quả là Frank Kennedy bị giết, Ashley Wilkes  bị thương,  những người khác có nguy cơ bị bắt. Rhett Butler đã giúp đỡ họ thoát nạn.Trong khi Frank Kennedy còn chưa được chôn cất và Scarlett O’Hara  còn đang  ân hận vì nghĩ mình là nguyên nhân cái chết của  chồng thì   Rhett Butler đã đến quỳ gối dưới chân nàng và ngỏ lời cầu hôn bởi vì anh  vẫn rắp tâm lấy được cô ngay từ ngày đầu họ gặp nhau và như anh nói: “Scarlett ạ, thực tình tôi không thể suốt đời cứ rình để bắt cô vào quãng giữa hai đời chồng.”

 Mặc dù đã được sống những ngày tháng thoải mái, mặc dù được Rhett Butler hết sức cưng chìu và mặc dù hai người đã có với nhau một đứa con gái, Scarlett O’Hara vẫn nghĩ rằng nàng chỉ có thể yêu một mình Ashley Wilkes nên cả hai cứ giằng dỗi nhau. Scarlett O’Hara thậm chí đã quyết ngủ riêng để tránh việc mang thai lần nữa. Họ cứ đến được gần nhau rồi lại dần trở nên xa cách nhau cho đến khi cô con gái bé nhỏ mà Rhett Butler hết lòng yêu thương bị tai nạn và qua đời khiến Rhett Butler bị một cú sốc tâm lý nặng nề nặng nề và nghĩ rằng mình sẽ buông bỏ  mọi thứ vì không còn đủ kiên nhẫn để theo đuổi tình yêu với Scarlett O’Hara.

  Melanie Hamilton  sinh con lần nữa. Vì thể trạng yếu đuối nên nàng lâm vào tình trạng nguy kịch.Trong giờ phút hấp hối, Melanie đã gửi gắm chồng mình và con trai lại cho Scarlett O’Hara và đồng thời cũng khuyên nàng hãy trân trọng tình yêu của Rhett Butler. Bao nhiêu năm Scarlett O’Hara đã luôn nguyền rủa Melanie  và cầu cho cô ấy chết đi để riêng mình có được Ashley Wilkes nhưng đến bây giờ Scarlett O’Hara mới biết được Melanie Hamilton quan trọng với mình đến mức nào. Cũng cho đến khi có thể có được Ashley Wilkes  như  mơ ước, Scarlett O’Hara mới  nhận ra tình yêu của mình với Ashley Wilkes trong bao nhiêu năm nay chỉ là trí tưởng tượng, sự mơ mộng hay có khi chỉ là lòng kiêu ngạo của một Scarlett O’Hara thời thiếu nữ. Cũng chỉ cho đến khi bối rối hoang mang vì phải mất tất cả những người  yêu dấu từng có trên đời Scarlett O’Hara  mới có thể hiểu ra  rằng trên đời này chỉ có một người hòa hợp với cô, một người cô có thể yêu thực sự_ người đó  chính là Rhett Butler .

Dù  có vẻ như mọi việc đã muộn màng, dù  Rhett Butler bấy lâu vẫn luôn dõi theo, luôn che chở, luôn yêu thương nàng nồng nhiệt giờ đã trở nên xa cách lạnh lùng, đã ngoảnh mặt quay lưng, Scarlett O’Hara với bản tính cứng cỏi vẫn tin rằng mình sẽ tìm lại được tình yêu của Rhett Butler. Cô quyết định ngay ngày mai sẽ trở về Tara vì biết rằng mảnh đất thân thiết, êm dịu ấy sẽ luôn vỗ về , che chở giúp cô làm lành các vết thương và giúp cô có thêm sức mạnh tiếp tục cuộc chiến đấu của mình.

Với tinh thần của dòng dõi nàng vốn không bao giờ chịu thua, kể cả khi đối mặt với thất bại, Scarlett O’Hara  vênh cằm lên. Nàng có thể chiếm lại được Rhett. Nàng biết mình làm được việc đó. Chưa có người đàn ông nào cưỡng lại được nàng, một khi nàng đã quyết tâm chinh phục.

“Ngày mai về ấp Tara, mình sẽ suy nghĩ về toàn bộ chuyện này. Lúc đó, mình sẽ đủ sức chịu đựng. Mai, mình sẽ nghĩ cách chiếm lại Rhett. Sau tất cả , ngày mai là một ngày mới”

 Dĩ nhiên “  Cuốn theo chiều gió  ” của Margarett Mitchell  là một tác phẩm văn học cực kỳ hấp dẫn . Nhiều người đọc  có thể bị cuốn hút  đọc một mạch suốt cả ngàn trang của tiểu thuyết mà không dứt ra được. Với một câu chuyện khá dài nhưng có kết cấu  chặt chẽ, logic, các tình tiết, sự kiện không có gì quá rắc rối, phức tạp, thậm chí rất dung dị, đời thường    những ai là người Việt Nam từng sống qua những thập kỉ cuối của thế kỉ XX đều ít nhiều có thể thấy bóng dáng câu chuyện của chính cuộc đời mình trong đó ngòi bút đầy nữ tính Margarett Mitchell  đã khắc họa một cách tinh tế, sinh động những nhân vật với những nét tính cách rất điển hình của con người  trong  chiến tranh và cả thời hậu chiến. Chiến tranh luôn gây đau thương, bất hạnh cho con người. Nhưng từ hàng ngàn năm nay, hết  cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác vẫn  xảy ra, chúng  tồn tại như một dạng thể bất khả tri, một thứ dịch bệnh khó lòng trốn tránh được. Và nữa, chiến tranh hay không, đó là vấn đề của các hoàng đế, các tướng lĩnh, các người lãnh đạo, các nhà cầm quyền … Vấn đề của hàng triệu những con người bình thường chỉ là  phải đối mặt với những hệ quả, hệ lụy  của chiến tranh như thế nào. Như một cơn cuồng phong đầy thịnh nộ đi qua một cánh rừng, chiến tranh quét sạch mọi thứ trên đường đi của nó. Sẽ gãy đổ, gục ngã ngay từ đầu như một cành cây non yếu ớt, hay  để mình mềm mại uốn mình “cuốn theo chiều gió” như một loại dây mây dẻo dai, hay con người còn có thể có sự lựa chọn một cách ứng phó nào khác nữa trước những tấn thảm kịch của nhân loài… Margarett Mitchell qua các nhân vật của mình như Scarlett O’Hara, như Rhett Butler ,như Ashley Wilkes , như Melanie Hamilton .. đã để cho hàng triệu người đọc của mình phải có những ngẫm ngợi sâu sắc về điều đó.

Scarlett O’Hara là nhân vật chính được khắc họa sống động nhất trong tiểu thuyết “Cuốn theo chiều gió  ”của Margarett Mitchell. Mặc dù được người mẹ dòng giống quý tộc  thanh nhã, dịu dàng nuôi dạy uốn nắn để trở thành một tiểu thư đúng mực nhưng Scarlett O’Hara bẩm sinh lại  thừa hưởng nét tính cách ngoan cường, cứng cỏi, thực tế của ông bố _ một di dân từ Ái Nhĩ Lan  không một đồng xu dính túi đến nước Mỹ để  khai phá miền đất này từ gần bốn mươi năm trước. Chính những nét tính cách  đó đã khiến cho Scarlett O’Hara vốn được nuông chiều, rất mực kiêu kỳ đã vượt lên trên tất cả   những  khó khăn của thời chiến tranh và cả thời hậu chiến để tồn tại. Cô chấp nhận đánh đổi cả những phẩm giá của mình như lòng tự trọng, sự nhân từ , tính ngay thẳng… để có miếng ăn cho cả gia đình, để cứu Tara, và sau này , để không bao giờ còn bị cái đói nghèo ám ảnh, để luôn được ngước mặt nhìn đời. Biết uốn mình bởi cái tất yếu, cái mạnh hơn cá nhân mình, điều đó là tốt hay xấu? Câu trả lời còn tùy ở mỗi người, nhưng với Scarlett O’Hara, mặc dù không ít lần phải tự dằn vặt, xấu hổ, nguyền rủa chính bản thân mình: đã giết người chỉ vì người ta đến ăn cắp của mình, đã lừa lọc  lấy cho được chồng của em gái để có một ít  tiền, đã vô đạo đức vì nhắm mắt giả lơ mặc cho tên quản lý đối xử tàn tệ, bóc lột sức lao động của những người tù …,vẫn phải thẳng thắn  mà nói rằng: nếu phải bắt đầu lại từ đầu, nếu vẫn ở trong hoàn cảnh ấy, thì Scarlett O’Hara cũng sẽ làm như thế; sẽ phải làm như thế, vì tình yêu với bố, với Ashley Wilkes, với Tara…Và không chỉ thế,  còn bởi sự xui khiến của một thứ nội lực tiềm tàng âm thầm chảy trong huyết quản, thứ nội lực mà chính bản thân Scarlett O’Hara cũng không thể nhận biết, đó chính  bản năng  sinh tồn mạnh mẽ quyết liệt mà  tạo hóa đã dành riêng để trao tặng cho nàng, cho bố của nàng, cho những ai luôn sẵn sàng  đấu tranh để  giành phần chiến thắng trong cuộc đời.

Về điều này thì trong hệ thống nhân vật “Cuốn theo chiều gió ”, Rhett Butler giống Scarlett O’Hara hơn ai hết. Rhett Butler yêu Scarlett O’Hara cũng bởi vì nhận biết nét tính cách thẳng thắn, quyết liệt này của nàng. Hai người là một cặp trời cho rất đẹp đôi và lẽ ra họ đã có thể rất hạnh phúc ngay cả trong những năm tháng gian khó  nhất khi cuộc nội chiến  mới bắt đầu. Tiếc rằng Scarlett O’Hara đã  mất quá nhiều thời gian  để nhận ra điều ấy. Rhett Butler là người có đầu óc khôn ngoan, mưu trí và thực dụng. Cũng xuất thân  quý tộc nhưng Rhett Butler không ngần ngại tự nhận mình là “kẻ  vô lại ”, “ tên ích kỷ và đểu cáng ’’, dám làm những chuyện xằng bậy mà người ta không dám làm vì sợ tai tiếng. Chiến tranh xảy ra, Rhett Butler không hồ hởi đăng lính như hầu hết các bạn trẻ  mặc dù trước đó đã từng là một sĩ quan kinh nghiệm của miền Nam.Trong thời kỳ phong tỏa, Rhett Butler lợi dụng cơ hội tiến hành các hoạt động  buôn bán đầu cơ lương thực và vũ khí để làm giàu, sau chiến tranh hắn lại kết giao thân mật với những người Cộng Hòa là phe thắng cuộc , sẵn sàng “liếm gót giày của kẻ thù ’’tìm kiếm các phi vụ làm ăn để làm giàu hơn nữa. Cả thành phố khinh ghét và nói xấu sau lưng nhưng chàng cóc cần điều đó . Rhett Butler  không tin vào bất cứ thứ chính nghĩa nào, Rhett Butler chỉ tin vào chính bản thân mình: “ Rhett Butler, hắn là chính nghĩa duy nhất của  anh ”. Chính niềm tin đó, chính sự phỉ nhổ vào mọi thứ hư từ đã giúp Rhett Butler tránh khỏi cái chết vô nghĩa trong chiến tranh, thoát khỏi cái nghèo đói thê thảm sau chiến tranh như hàng trăm ngàn những chàng trai ngây thơ non trẻ cùng thời. Là một kẻ ranh mãnh và luôn biết tận dụng cơ hội , nhưng điều đó không có nghĩa là trong sâu thẳm tâm hồn quý tộc của mình , Rhett Butler  không ẩn chứa, không khao khát một điều gì tốt đẹp. Phần cuối truyện, Rhett Butler buông bỏ mọi thứ đã kiếm tìm để ra đi: “Anh chấm dứt với mọi thứ ở đây. Anh cần thanh bình. Anh muốn coi nếu có một nơi nào đó còn chút gì yêu kiều và thanh cao cho cuộc sống. Em hiểu anh đang nói gì không?”

 Ashley Wilkes  là một nhân vật gây nhiều tranh cãi . Có vẻ như Margarett Mitchell muốn xây dựng một kiểu nhân vật mà nhân sinh quan hoàn toàn đối lập với Rhett Butler. Ashley Wilkes là  chàng trai trẻ  tài hoa,  trong sáng , cao thượng …, chàng có đủ phẩm cách của một quý tộc khiến bao cô gái xinh đẹp và thông minh như Scarlett O’Hara     phải say mê và mơ tưởng. Nhưng điểm yếu của Ashley Wilkes là anh ta chỉ có thể tồn tại trong cái thế giới ấy , thế giới của thi ca , của hội họa và những thứ đẹp đẽ khác. Còn một khi cái thế giới đẹp đẽ ấy trở nên lộn tùng phèo hết cả thì loại người như anh ta lại là những kẻ chết đầu tiên. Sau chiến tranh , giữa những đổ nát hoang tàn , tất cả đều phải làm lại từ đầu .Những đồn điền không còn nô lệ .Thuế má đều tăng lên .Trong khi một  tiểu thư như Scarlett O’Hara  phải xắn tay để làm việc  như một nô lệ để nuôi sống gia đình , để cứu sống Tara thì Ashley Wilkes chỉ biết buồn rầu , bất lực  đắm chìm trong kỷ niệm. Không phải Ashley Wilkes không có năng lực làm việc, vấn đề chỉ là vì anh ta mất hết ý chí phấn đấu nên để cho bản thân mình mỗi lúc mỗi chìm dần đi. Một nhân vật đại diện cho người dân miền Nam sau chiến tranh trong “Cuốn theo chiều gió “ đã nói về bệnh trạng của mình: “Cả thể giới không thể quật ngã được chúng ta, nhưng chính chúng ta lại có thể  tự đánh gục mình bằng cách tiếc nuối quá đáng những gì chúng ta đã mất…’’ Sau chiến tranh , Ashley Wilkes chỉ có thể tồn tại bằng cách sống nhờ  vào tình yêu thương của hai người phụ nữ là Scarlett O’Hara   và Melanie Hamilton . Khi sức khỏe Melanie Hamilton trở nên nguy kịch và mạng sống chỉ còn một vài phút giây ngắn ngủi, tình trạng bạc nhược, bất lực của Ashley Wilkes trong lúc Scarlett O’Hara    đang rất cần một sự sẻ chia , nâng đỡ khiến Scarlett O’Hara    chợt nhận ra toàn bộ con người chàng bấy lâu nay vẫn là thế. Chàng chỉ như một món đồ đẹp mà vì không có được nên nàng cứ như một đứa trẻ    cứ khao khát mãi , đến khi có được rồi mới nhận ra đó là một thứ hoàn toàn vô dụng. Tình yêu của bao nhiêu năm tháng  của Scarlett O’Hara  với Ashley Wilkes rốt cuộc đã tan biến đi , chỉ còn lại là một chút sự thương hại và khinh bỉ.

Một nhân vật có vẻ hơi mờ nhạt trong tiểu thuyết “Cuốn theo chiều gió”    nhưng có lẽ được tác giả và độc giả dành cho nhiều sự trân quý  là nhân vật Melanie Hamilton . Một nhan sắc bình thường bên cạnh vẻ yêu kiều , rực rỡ đầy cuốn hút của Scarlett O’Hara  .Vẻ đẹp thực sự của Melanie Hamilton chỉ được nhận ra qua những tháng năm dài rộng , qua những biến cố kinh hoàng , qua cái nhìn của những con người có trái tim mẫn cảm. Đó là  một người phụ nữ bình dị , khiêm nhường , hiền dịu nhưng không gì khuất phục nổi  kể cả chiến tranh và cùng với nó là những thứ tệ hại như đói rét , bần cùng , chết chóc… Khi cuộc chiến tranh kết thúc, khi những kẻ thắng cuộc từ dưới đáy xã hội bỗng ngoi  lên với  cuộc sống giàu có  xa hoa còn bản thân những  người xuất thân là quý tộc như Melanie Hamilton lại trở nên nghèo khó thì nàng không oán thán mà vẫn lương thiện , chăm chỉ làm việc; không ganh tỵ mà  vẫn vui vẻ ,  đôn hậu ,  hiếu khách ; không xu thời mà vẫn giữ được những phẩm chất , những nề nếp tốt đẹp, những giá trị của truyền thống  cũ xưa .  Khi một trận cuồng phong đi qua, mọi thứ cỏ cây đều gãy đổ hoặc ngã rạp xuống , uốn mình theo chiều gió, chỉ riêng những loài cây quý với chất gỗ cứng cáp , vững vàng mới có thể trụ lại bền bỉ với năm tháng , với đất trời . Melanie Hamilton chính là loài cây quý ấy . Khi chứng kiến những giờ phút cuối cùng của Melanie Hamilton , khi sắp phải vĩnh viễn mất đi người bạn bấy lâu gắn bó , con người cứng cỏi như Scarlett O’Hara  mới nhận ra bấy lâu nay chính Melanie Hamilton bé nhỏ mới là rường cột , là sức mạnh , là chỗ dựa cho nàng , cho cả hai gia đình qua bao năm tháng khốn khó , gian nan.

 Scarlett O’Hara, Rhett Butler , Ashley Wilkes , như Melanie Hamilton … là những nhân vật trong một tiểu thuyết của nền văn học Mỹ từ thế kỷ XIX nhưng không hề xa lạ với xã hội , con người Việt Nam  thế kỷ XX . Như đã nói ở trên, những ai là người Việt Nam từng sống qua những thập kỉ cuối của thế kỉ XX đều ít nhiều có thể thấy bóng dáng  câu chuyện của chính cuộc đời mình trong“Cuốn theo chiều gió”của Margarett Mitchell    . Tôi đã được nghe kể nhiều về những câu chuyện của bạn bè mình những năm tháng trong và sau chiến tranh 1975. Bạn bè học chung lớp chung trường , năm1975 bỗng chốc như một bầy ong vỡ tổ tan tác khắp nơi. Mấy mươi năm sau gặp lại được nhau,  mỗi  thân phận dường như là một câu chuyện dài không dứt , đầy u uẩn , đầy khắc khoải . Ai trong họ là Scarlett O’Hara,  là Rhett Butler,  là Ashley Wilkes, là Melanie Hamilton … trên cái nền cảnh tranh tối tranh sáng của một cuộc đổi dời ??? Sự lựa chọn là tùy ở mỗi người .Và sự lựa chọn nào cũng có cái giá phải trả. Không một ai có quyền phán xét ai đã làm gì , đã như thế nào . Ở đây, chỉ có thể lắng nghe và thấu hiểu bằng sự cảm thương.

Nhưng “Cuốn theo chiều gió”của Margarett Mitchell  không chỉ là câu chuyện về tình yêu , về thân phận con người và những nỗi thống khổ vì  chiến tranh. “Cuốn theo chiều gió”của Margarett Mitchell  còn là câu chuyện của lịch sử được ghi lại bằng một thứ ngôn ngữ văn chương trong sáng , hàm súc và đầy sức thuyết phục. Chính tổng thống Abraham Lincoln trước khi chết đã nói : “Người ta có thể từ bỏ mọi thứ, nhưng không ai từ bỏ được lịch sử”. Cuộc nội chiến nước Mỹ  kéo dài trong bốn năm (1861_1865) được trả giá bằng cái chết của 620.000 binh sĩ và hàng triệu người bị thương tích, bao nhiêu thành phố hoa lệ bị làm cho đổ nát , hoang tàn. Lịch sử nước Mỹ  phải ghi lại cuộc chiến tranh này để những mất mát đau thương  không lặp lại. Nhưng lịch sử nước Mỹ  cũng phải ghi nhận công lao của vị anh hùng dân tộc Abraham Lincoln và mục tiêu cao quý  của cuộc chiến tranh mà ông đã lãnh đạo. Cuộc chiến tranh Nam _Bắc nước Mỹ là sự hy sinh cho những nguyên tắc tự do và bình đẳng của con người . Giải phóng  nô lệ da đen là một phần của nỗ lực ấy. Trong “Cuốn theo chiều gió”, Margarett Mitchell  nhiều lần để cho những nhân vật của mình  chế giễu Abraham Lincoln ; nhiều lần nói đến những chết chóc và những thương tật kể cả thể xác và linh hồn ; nhiều lần ta thán chính sách thuế khóa nặng nề khiến các ông chủ đồn điền lâm vào cùng kiệt; nhiều lần nói đến sự hợm hĩnh của bọn nhà giàu mới ngoi lên…Nhưng vượt lên trên tất cả những đau thương mất mát , những nghịch lý của  xã hội ,  chiến thắng từ cuộc chiến tranh Nam _Bắc là một chiến thắng làm nên chân giá trị của nước Mỹ . Chiến thắng ấy cho phép hàng chục triệu người nô lệ da đen đến từ miền đất Phi Châu (từng được Harriet Beecher Stowe khắc họa trong trong tác phẩm nổi tiếng“Túp lều của bác Tom”) với những số phận bi thảm , những cuộc đời thống khổ có được quyền  tự do và bình đẳng , và sau đó con cháu của họ có cơ hội để phấn đấu trở thành những người  kiệt xuất như trường hợp Barak Obama _tổng thống nước Mỹ hiện nay. Người Mỹ đã phải đổ nhiều máu xương ,  tổng thống Abraham Lincoln cũng phải trả giá bằng chính mạng sống của mình chỉ vài ngày sau khi cuộc  chiến tranh   kết thúc thắng lợi (15/4/1864), nhưng sự hy sinh ấy đã không uổng phí . Đó là sự hy sinh để sản sinh một nền tự do mới làm nên một nước Mỹ tiến bộ,  văn minh  khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ.

Trong “Cuốn theo chiều gió”của Margarett Mitchell  , Tara bị rơi vào tình cảnh  khốn khó nhưng rồi Tara lại hồi sinh ; Rhett Butler  tuyệt vọng bỏ Scarlett O’Hara mà đi nhưng Scarlett O’Hara vẫn tin rồi Rhett Butler  sẽ lại trở về . Kết thúc truyện là hình ảnh Scarlett O’Hara đang hình dung mình  đứng ở thềm nhà Tara , một ngày mùa thu đầy nắng, với câu nói quen thuộc đầy niềm tin tiếp thêm sức mạnh cho mình: “Sau tất cả, ngày mai là một ngày mới” (After all, tomorrow is another day!)

Scarlett O’Hara có quyền được tin như thế . Bởi chính trong tác phẩm văn học này và trong thực tế của lịch sử , chỉ sáu năm sau khi nội chiến kết thúc, thủ đô của miền Nam Atlanta hoang tàn, đổ nát lại hồi sinh, lại tưng bừng , lại đẹp rực rỡ , hoa lệ như chưa từng có chiến tranh xảy ra.

Lịch sử ghi rằng trưa ngày 9 tháng 4 năm 1865 , tướng Robert E. Lee  của miền Nam và tướng Ulysses S. Gran của miền Bắc gặp nhau để ký kết  văn bản đầu hàng kết thúc chiến tranh . Lịch sử cũng ghi rằng đây là thỏa hiệp của những người quân tử (The Gentlemen’s Agreement). Trên các bảo tàng viện và đặc biệt là bảo tàng viện ở Appomattox Virginia có tranh sơn dầu hình Tướng Lee hiên ngang quắc thước trong bộ quân phục xanh dương, tóc và râu bạc, thể hiện hình ảnh người Mỹ anh hùng không bị khuất phục dù thua trận. Toàn thể nước Mỹ hiểu rằng khi một người Mỹ bị nhục,  thì dù là Mỹ miền Nam hay Mỹ miền Bắc cũng vẫn là một người Mỹ bị sỉ nhục. Trong cuộc  chiến tranh ấy , sau cùng được hay thua thì cũng vẫn là nước Mỹ và người Mỹ.

 Cả nước Mỹ sau sự kiện tháng 4 năm 1865 đã cùng bắt tay vào một công cuộc tái thiết hàn gắn những vết thương . Lòng yêu nước , niềm tự hào dân tộc của mỗi người dân cùng những cố gắng tôn trọng công lý , pháp luật của phe thắng cuộc đã khiến nước Mỹ trong một thời gian ngắn  làm nên những kỳ tích. Trong thần thoại Ai Cập cổ đại có huyền thoại về chim Phượng Hoàng là một loài chim đẹp linh thiêng sống tới cả ngàn năm .Vào  cuối vòng đời Phượng Hoàng xây dựng một cái tổ từ những nhành cây quế và sau đó tự đốt cháy mình . Cả tổ và chim cùng cháy lên dữ dội và tan thành tro bụi .Và rồi từ đống tro bụi đó một con Phượng Hoàng mới , đầy sức sống bay lên.

Nước Mỹ sau chiến tranh chính là con chim  Phượng Hoàng đó.

 Tại nước Mỹ  , cách thành phố Atlanta chừng 25 km, có một viện bảo tàng được các du khách thường xuyên thăm viếng mang tên Gone with the Wind_ nhan đề cuốn tiểu thuyết của Margarett Mitchell . Ở đây người ta trưng bày những tài liệu, vật dụng liên quan đến cuốn tiểu thuyết và bộ phim “Cuốn theo chiều gió”. Sự yêu mến, tự hào về viện bảo tàng này cùng tác phẩm của Margarett Mitchell  là sự thể hiện sinh động một phần tình yêu tổ quốc ngấm ngầm mà sâu xa của người dân nước Mỹ , cũng là sự nhắc nhở cho họ luôn hướng về việc xây dựng tương lai nhưng không được quên quá khứ và những bài học đắt giá của lịch sử. Ở Việt Nam , lịch sử là một môn học khá nhàm chán, và khi cả học sinh lẫn giáo viên đều đã ngoảnh mặc quay lưng với môn lịch sử ,  Bộ Giáo dục lại có dự kiến xóa bỏ môn này  để thay vào đó  là tổ hợp môn Công dân với tổ quốc gồm lịch sử +giáo dục đạo đức công dân + giáo dục an ninh quốc phòng. Một môn học mà theo giáo sư Phan Huy Lê chỉ ở Việt Nam  mới có!!!

Liệu sự thay đổi này có làm học sinh yêu mến và hiểu biết về lịch sử hơn không?

Nhà thơ nổi tiếng xứ sở Daghestan Gamzatovich Gamzatov đã nói rằng : “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai bắn lại anh bằng đại bác”. Tình yêu đất nước _con người  , sự hiểu biết lịch sử  đã khiến  những người dân Hợp Chủng Quốc từ sau sự kiện ngày  9 tháng 4 năm 1865 chung tay hợp sức với nhau khiến nước Mỹ  từ chết chóc, đổ nát , điêu tàn vươn lên thành  cường quốc số một thế giới .  Đó là sự thật. Đó là bài học mà Việt Nam cần được thuộc lòng .  Quá khứ cần được  gìn giữ  . Lịch sử cần được tôn  trọng . “Cuốn theo chiều gió” của Margarett Mitchell  đã góp một phần khiến người ta hiểu biết và  quý yêu  hơn những giá trị nhân bản của nước Mỹ thông qua một câu chuyện tình yêu trên nền cảnh cuộc nội chiến  đã diễn ra trong lịch sử nước Mỹ từ hơn 150 năm trước( 1861_1865).Tác giả đã viết nên tác phẩm của mình không chỉ bằng tài năng nghệ thuật , bằng tình yêu  , bằng sự hiểu biết  mà còn bằng sự thấu cảm lịch sử tuyệt vời . Đó cũng là một trong những khiến lý do vì sao từ khi ra đời đến nay (1936),  “Cuốn theo chiều gió” của Margarett Mitchell luôn được các thế hệ người đọc hâm mộ , say mê  và luôn có một vị trí xứng đáng trong kho tàng văn học của nước Mỹ cũng như  thế giới.

                                     Sài Gòn , 26/4/2016

                                      Hà Thị Lệ Hà

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH (BẢO NINH) và “một nửa của sự thật …”

12_1_4

Phần lớn người đọc Việt Nam biết đến “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh khá muộn màng so với thời điểm ra đời của nó , sau nhiều cơn cớ sóng gió phê bình và kiểm duyệt . Xuất bản lần đầu tiên năm 1987 với nhan đề “Thân phận của tình yêu” . Đạt giải của Hội Nhà văn Việt Nam sau khi chính thức được phép xuất bản năm 1991 . Được tôn vinh là “cuốn tiểu thuyết xúc động nhất về chiến tranh Việt Nam”, “cuốn sách chạm vào mẫu số chung của nhân loại”, “thành tựu lớn nhất của văn học đổi mới”…
Lần đầu cầm trên tay “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh năm 2002, tôi đã đọc liền một mạch . Hiếm khi được đọc một cuốn như thế . Xót thương và cảm động ! Nhiều câu văn , nhiều đoạn văn của “Nỗi buồn chiến tranh” khiến tôi thực tin người viết , cũng là một người lính , thực trải những đau đớn , dằn xóc nghiệt ngã tự trái tim mình .
“Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh lập tức làm tôi nhớ đến “ Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” ( All quiet on the Western Front) của nhà văn Đức Erich Maria Remarque. Đầu thập niên 1970 , ở miền Nam Việt Nam , còn là những học sinh cấp 2, chúng tôi đã say mê đọc Remarque : “Một thời để yêu , một thời để chết” , “Chiến hữu”… , và đặc biệt là “Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh”. Những ngày ấy , chiến tranh hiện diện khắp mọi ngóc ngách : trên từng bản tin chiến sự hằng ngày của báo chí và truyền hình , trong từng âm thanh tiếng đại bác đêm đêm ầm ĩ dội về thành phố …Bạn bè cùng trường , cùng lớp tôi , phần lớn là những đứa trẻ từ các làng quê Điện Bàn , Đại Lộc , Duy Xuyên … theo gia đình tản cư về Đà Nẵng . Có đứa , anh làm xã trưởng , nửa đêm bị du kích xông vào nhà chặt đầu. Có đứa , ba làm quận trưởng , cuối tuần về lại nhà chiếc xe jeep bị đặt mìn nổ tung . Ba tôi cũng là một người lính , ông điều hành một đại đội xe Hồng thập tự chuyên về tải thương , lúc còn tạm trú ở trại lính tôi đã nhìn thấy rất nhiều máu đặc quánh rồi khô lại trên vô số những tấm băng ca màu xanh xám . Tuổi mười hai , mười ba , nghe những câu chuyện ấy , nhìn những cảnh ấy… chỉ biết buồn ngơ ngẩn mà không thể hiểu vì sao con người lại tàn ác với nhau, lại nhẫn tâm làm đổ máu nhau như thế. Sự thể ấy cũng khiến nhiều đứa trong số chúng tôi mau chóng rời bỏ tuổi trẻ và trở nên già nua rất nhanh, trong có vài năm ngắn ngủi mà trải nghiệm gần hết cả một cuộc đời hệt như nhân vật Paul Bäumer trong “ Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” của Erich Maria Remarque.
“ Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” của Erich Maria Remarque là một tiểu thuyết về đề tài chiến tranh . Tác phẩm lấy bối cảnh cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất , khi cuộc Đại chiến đã đi được nửa đường và điểm nóng mặt trận đã chuyển hướng từ phía Đông về phía Tây (1916_1918) . Nhân vật chính là Paul Bäumer, một người lính Đức 19 tuổi . Mấy năm trước , anh cùng những người bạn học cùng lớp của mình nghe lời cổ vũ , tuyên truyền của giáo sư Kantorek: “ chúng ta có hạnh phúc được sống trong một thời đại lớn ; vì vậy chúng ta phải hòa mình vào thời đại ấy” , bảy người trong lớp họ hăng hái vào quân đội để tham gia chiến tranh. Sau một khóa huấn luyện kéo dài mười tuần , họ được đưa ra mặt trận Miền Tây , nơi đang diễn ra những cuộc giao tranh ác liệt giữa nước Đức và liên quân Anh Pháp. Họ từng được giáo sư Kantorek thuyết phục rằng “tuổi trẻ là gang thép”, những chiến binh Đức là bất bại , nhưng ra đến mặt trận , trước đạn bom, họ mới thấy sinh mạng con người bé nhỏ , yếu ớt và thảm hại biết chừng nào .
Mở đầu “ Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” là hình ảnh mấy chục người lính đại đội 2 , đại đội của Paul Bäumer đang xếp hàng lĩnh thức ăn trưa . Ngày hôm qua , sau một trận đánh ác liệt với quân Anh , đạn pháo tới tấp giã trên đầu , đại đội 2 gồm 150 quân của họ chỉ còn lại 80 . Mọi sự xảy ra nhanh đến mức không ai hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra , không ai hiểu vì sao mình còn sống , cũng không ai kịp nhỏ một giọt nước mắt khóc thương cho những đồng đội của mình. Trái lại , dường như tất cả bọn họ đều còn thấy cảm thấy phấn chấn , hả hê vì bữa trưa ngày hôm ấy , khẩu phần dành cho 150 người gồm đậu hầm , xúc xích , bánh mì , thuốc lá …sẽ là của 80 người , một “khẩu phần kép”. Thật là no nê phủ phê . Ăn uống xong rồi , họ xách những chiếc thùng gỗ ra cánh đồng cỏ sau lán trú quân , ba cái đâu vào nhau , chễm chệ ngồi lên rồi chơi bài , hút thuốc , đọc thư… vừa đắm mình trong bầu không khí dễ chịu đẫm hương hoa đồng nội, vừa khoan khoái trút những thứ mới được tiêu hóa trong dạ dày , ít ra cũng hai tiếng đồng hồ sau mới chịu đứng dậy .
Cũng trong trận ấy , một người bạn học _đồng đội của Paul Bäumer là Kemmerich bị thương . Một chân của anh đã bị cưa và có lẽ anh cũng chẳng còn có thể sống được bao lâu . Nhưng Kemmerich mới mười chín tuổi , anh không thể hiểu cái sự thể bi đát ấy . Và anh cũng chẳng thể nào hiểu vì sao anh bạn Müller thân thiết đến thăm mà cứ thèm thuồng lấm lét nhìn đôi giày của mình . Đôi giày của Müller đã quá cũ nát khi phải hành quân liên tục, trong khi giày của Kemmerich còn mới mà anh ta chẳng bao giờ còn có thể cần đến nữa.
Vậy đó , chiến tranh , ngay từ những ngày đầu , nếu không cướp đi mạng sống của con người thì cũng tước đoạt của họ mọi thứ cảm xúc , biến những chàng trai đầy mơ mộng trở thành những kẻ thô lỗ , cục súc và tàn nhẫn . Chỉ có thực tại , thực tại , và thực tại : ăn được thì ăn , ngủ được thì ngủ , yêu được thì yêu … Bởi nếu không như vậy , họ chẳng thể nào có thể sống qua những khủng khiếp , kinh hoàng . Đó là những trận pháo kích dồn dập trong những chiến hào chật chội , những cái chết thương tâm và đau đớn của đồng đội …Mới hôm qua đại đội một trăm năm mươi người , hôm nay chỉ còn tám mươi . Mới cuối hè đại đội một trăm năm mươi người , sang đầu thu nay chỉ còn ba mươi hai trong hàng ngũ . Lớp lớp những chàng trai non trẻ măng tơ ra chiến trường và lần lượt gục ngã …Chỉ có thể nhờ vào may mắn mà một ít trong số họ còn sống sót để lại tiếp tục công việc nổ súng bắn vào con người . Có lần , trong một trận tấn công , Paul Bäumer lạc vào chiến hào của đối phương và đã phải tự tay mình đâm chết một người lính Pháp . Nỗi đau đớn , tiếng rên rỉ kéo dài suốt đêm của người lính Pháp ấy , bức ảnh người vợ cùng đứa con gái nhỏ của người lính Pháp_người thợ sửa ống khóa hiền lành ấy đã khiến Paul Bäumer thảng thốt nhận ra sự thể kẻ anh vừa giết cũng là con người . Anh nói với người ấy , bấy giờ đã là một cái xác chết :”Này anh bạn, mình có muốn giết cậu đâu. Nếu cậu lại nhảy vào cái hố này một lần nữa, mình sẽ không làm thế nữa đâu, miễn là chính cậu, cậu cũng phải biết điều. Nhưng đầu tiên, đối với mình, cậu chỉ là một ý nghĩ, một sự tính toán nảy ra trong đầu mình, rồi nó dẫn đến một quyết định. Chính mình đã đâm vào cái sự tính toán ấy. Bây giờ, lần đầu tiên, mình nhận ra cậu cũng là một con người như mình. Mình đã nghĩ đến những quả lựu đạn của cậu, đến cái lưỡi lê và các thứ vũ khí của cậu; nhưng bây giờ, mình nhìn thấy vợ cậu, cũng như nhìn thấy mặt cậu và những gì giống nhau giữa hai đứa chúng mình. Bạn ơi, hãy tha thứ cho mình. Bao giờ chúng ta cũng nhìn ra sự việc một cách quá muộn. Tại sao người ta không nói cho bọn mình biết rằng chính các cậu, các cậu cũng chỉ là những con chó khốn khổ như bọn mình, rằng các bà mẹ của các cậu cũng đau khổ như mẹ chúng mình, rằng chúng ta đều sợ chết như nhau, đều chết một cách giống nhau, chịu những nỗi đau đớn như nhau? Bạn ơi, hãy tha thứ cho mình; tại sao cậu lại có thể là kẻ thù của mình? Nếu chúng ta bỏ những vũ khí và bộ quân phục này đi, thì cậu rất có thể là người anh em của mình, như Kat và Albert vậy. Bạn ơi, cậu hãy lấy hai mươi năm của đời mình và cậu hãy đứng dậy đi… Đời mình còn gì nữa, cậu cứ việc lấy nốt đi, vì mình không biết là từ nay mình còn làm những gì nữa”.
Paul Bäumer và những đồng đội của anh , ngày càng thấy rõ , cuộc chiến tranh mà họ tưới tắm bằng chính máu của mình không thể đem lại niềm vinh quang cho bản thân họ . Người ta buộc các anh phải nổ súng bắn vào cuộc sống , phải giết người .Và lý do của sự giết chóc ấy ngay từ đầu đã thật phi lý. Người ta nói rằng tổ quốc của họ đang bị xúc phạm . Nhưng những người lính thấy rằng :“ Một quả núi của nước Đức làm sao lại có thể xúc phạm một quả núi của nước Pháp được. Một con sông, một khu rừng, một cánh đồng lúa mì, cũng thế thôi.” “Một anh thợ khoá và một anh thợ giày người Pháp sao lại muốn đánh chúng ta. Trước khi đến đây, mình chưa hề gặp một người Pháp nào, và phần đông người Pháp đối với chúng ta cũng thế .” Họ thấy rõ , không ai trong số hàng triệu những người lính bình thường , không ai trong số hàng triệu những người dân bình thường muốn có chiến tranh . Thế nhưng trong cuộc chiến tranh này, một nửa nhân loại lại trở thành đám thiêu thân lăn xả vào hỏa ngục , rốt cuộc đơn giản chỉ bởi vì những hoàng đế và tướng lãnh của đất nước họ đang sống cần có những chiến công .
Những ngày ấy ở mặt trận , những giống ký sinh trùng và chuột bọ không biết ở đâu chui ra mà sinh sôi nảy nở nhiều vô kể . Hàng trăm con rận béo múp trú ngụ trong một bộ quần áo lính rách rưới tả tơi. Chuột thì to lớn và gớm ghiếc khủng khiếp, người ta gọi chúng là “chuột xác chết”. Không chỉ gặm bánh mì , chúng còn ăn thịt lũ chó và mèo . Và chắc là vậy rồi , chúng xơi luôn cả xác người, bất kể người Đức , Anh , Nga hay Pháp…
Mùa hè năm 1918 , tình hình mặt trận Miền Tây trở nên gay go và đẫm máu hơn bao giờ hết . Hoa Kỳ đã tham chiến . Quân Đức ngày càng kiệt quệ và tuyệt vọng . Bảy chàng trai cùng một lớp học ra đi ngày ấy nay chỉ còn lại Kan và Paul Bäumer .
Mùa hè năm 1918 , cuộc sống với cái hình dáng tả tơi thảm hại của nó càng khiến người ta thèm khát. Hoa mào gà đỏ chói trên đồng nội Những cây cối trong hoàng hôn. Những ngôi sao và những dòng nước . Những giấc mơ và giấc ngủ triền miên.
Cũng mùa hè năm 1918 , những tin đồn về đình chiến , về hòa bình bắt đầu xuất hiện .
Nhưng bất kể những người lính ngoài mặt trận khắc khoải chờ đợi thế nào , chiến tranh vẫn chưa kết thúc , người vẫn tiếp tục chết . Kan , người bạn thân thiết cuối cùng , bị một viên đạn lạc , chết ngay trên vai Paul Bäumer , khi họ trên đường tới trạm quân y.
Tháng 10 năm 1918 , Paul Bäumer chết. Anh là người cuối cùng trong nhóm bảy người cùng một lớp học ngày ấy nghe lời giáo sư Kantorek hăm hở ra chiến trường nằm xuống trong chiến tranh. Ngày hôm ấy là một ngày khắp cả mặt trận yên tĩnh đến nỗi bản thông báo tình hình chiến sự chỉ ghi một câu “Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh”.
“Anh ta ngã xuống, đầu về phía trước, nằm dài trên đất, như người đang ngủ.
Khi lật anh ta lên, người ta thấy hình như anh ta không đau đớn lâu thì phải.
Nét mặt anh ta bình thản và như biểu lộ một vẻ bằng lòng về cái kết cục như vậy.”

Cùng với “Giã từ vũ khí ” của nhà văn Mỹ Ernest Hemingway , “Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” của Erich Maria Remarque được xem là tiểu thuyết hay nhất về Chiến tranh thế giới thứ nhất. Tác phẩm cũng được xem là cuốn sách bán chạy nhất Châu Âu suốt thế kỷ XX.

Cũng như “Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” của Erich Maria Remarque, “Nỗi buồn chiến tranh ” của Bảo Ninh là một tiểu thuyết về đề tài chiến tranh .Tác phẩm lấy bối cảnh Việt Nam , chủ yếu mười năm trước và mười năm sau khi cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam kết thúc (khoảng từ 1965 đến 1985). Nhân vật chính tên là Kiên , cũng là một người lính. Mười bảy tuổi , chàng trai Hà Nội ấy say sưa nghe lời hiệu triệu của thầy hiệu trưởng :“nước Mỹ sẽ bị hủy diệt ’’“chính các em sẽ là những thiên thần trẻ tuổi của cách mạng, các em sẽ cứu nhân loại”, cùng bao bạn bè hăm hở rời trường học để vào chiến trường . Từ đấy ,“ cả thế hệ anh đã lao vào trận chiến một cách hăng say, một cách hung dữ, đã làm đổ máu mình, đổ máu người.”. Mười năm Kiên chiến đấu ở chiến trường Bắc Tây nguyên là những năm chiến tranh khốc liệt nhất . Hàng bao núi xương sông máu ! Đói khổ , đạn bom và chết chóc vô kể ! Chỉ riêng một trận đánh cuối mùa khô 1969 , toàn bộ tiểu đoàn 27 một ngàn hai trăm người bị bao vây rồi bị tiêu diệt , chỉ còn sót lại mười người , trong đó có Kiên . Những cái tên “Truông Gọi Hồn ”, “Đồi Xáo Thịt ” … lần lượt ra đời , những oan hồn lính của hai bên , của cả dân thường … lưu lạc , vất vưởng khắp nơi khiến người còn sống yếu bóng vía phải phát điên. Dạo ấy , các vạt đất ven triền sông suối uống no nê máu người mà nở rộ những đám hồng ma . Ban đêm hương hồng ma càng “cô đậm, ngọt, ngào ngạt, thẩm thấu”. vào giấc ngủ làm thành bao nhiêu là giấc ngủ mơ kỳ lạ gây những ám ảnh khoái lạc mê mẩn”.
Chiến tranh , dù nhân danh vào bất cứ điều gì , thực chất vẫn là sự chết chóc , là hủy hoại mọi thứ kể cả sắt thép , gạch đá , nói gì đến sinh mạng con người… Đám trinh sát gai góc , dày dạn như Kiên nhờ chìm vào đám khói mê dụ đầy ảo ảnh của hồng ma mà quên mọi nông nỗi đói khát , đạn bom , chết chóc… của cuộc đời người lính. Nhưng khi họ tỉnh thức , sự hư hoại , mất mát từng ngày của chất người trong họ khiến họ âm thầm cảm thấy một nỗi tuyệt vọng thống thiết tràn ngập tâm hồn mình . Chiến tranh , dù là giết được người hay bị người giết cũng đều khốn khổ khốn nạn như nhau . Trong cuộc tấn công ở rìa Ban Mê Thuộc năm 1975, khi những khẩu đại liên của Kiên và đồng đội bắn xối xả vào đám tàn binh của trung đoàn 45 ngụy đang tháo chạy khỏi vùng đất trống Phước An , hàng ngàn cái bia thịt rú lên rồi rũ rượi gục ngã_những cuộc tàn sát man rợ ấy tuyệt nhiên không thể đem lại cho họ cảm giác về một niềm vui sướng, một chút vinh quang nào.
Chương đầu của tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh ” có một chi tiết kinh dị , ghê rợn và đầy ám ảnh . Năm 1974 , giữa tro tàn của một ngôi làng ở Tây nguyên , Thịnh “con” , người lính cùng tiểu đoàn với Kiên , săn đuổi và bắn chết một con vượn . Tiểu đoàn đã chuẩn bị nồi niêu dao thớt cho một buổi liên hoan tưng bừng , nhưng khi cạo sạch được bộ lông con vật ấy ra họ mới phát hiện đó là thân hình trần truồng một mụ đàn bà nửa xám xịt nửa trắng hếu , cặp mắt dựng ngược trợn trừng . Cả bọn thất kinh rú lên rồi ù té chạy . Cái hình ảnh con người quái gỡ thê thảm đang bị con người đem ra làm thịt ấy rõ ràng là sản phẩm ghê tởm của chiến tranh . Chi tiết ấy rất có thể là thực , cũng có thể chỉ là một ẩn dụ , nhưng qua chi tiết vật người này , người đọc đều có thể cảm nhận được thông điệp của nhà văn gửi tới mọi người : chiến tranh chẳng thể là điều gì hay ho, nó là sự sự hủy hoại , sự tước đoạt tàn ác khủng khiếp nhất với hình hài và phẩm giá của con người .
Nhân vật chính của “Nỗi buồn chiến tranh ” , Kiên_ chàng trai ngày nào đã tưởng mình là “những thiên thần trẻ tuổi ” hăm hở lao vào chiến tranh với lý tưởng từ chiến tranh , do chiến tranh sẽ tạo dựng cả một thế giới mới ,“cứu cả nhân loại”, rốt cuộc cũng phải cay đắng nhận ra sự thật nghiệt ngã :“Chao ôi! Chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người”.
Nhưng điều khủng khiếp nhất đối với Kiên và đồng đội không phải chỉ là trải qua những thống khổ cùng cực của chiến tranh mà còn là phải đối mặt với những sự thể tầm thường và thô bạo của hòa bình . Nếu bi kịch của nhân vật người lính trẻ Paul Bäumer trong “ Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” là không thể sống sót qua chiến tranh thì bi kịch của Kiên trong “Nỗi buồn chiến tranh ” lại dường như là qua hòa bình rồi mà vẫn còn sống sót . Nghịch lý chăng??? Cho đến trận chiến cuối cùng ở cửa ngõ Sài Gòn , cả trung đội trinh sát mười bốn người chỉ còn mỗi một mình Kiên . Chiều 30 tháng tư năm 1975, khi vẫn còn ngất ngây vì men chiến thắng thần tốc , những người lính như Kiên đã có cái cảm giác thật khó hiểu , thật lạ lùng : “ hòa bình ập tới phũ phàng, choáng váng đất trời và xiêu đảo lòng người” . Hòa bình như một thứ cây “mọc lên từ máu thịt bao anh em mình” nhưng lập tức sau đó không lâu lại khiến những người còn sống phải chứng kiến bao sự mỉa mai , chua chát vì những cuộc trở về “Không kèn, không trống, không khúc khải hoàn thì đã đành rồi nhưng đến một chút đối xử có trước có sau người ta cũng chẳng buồn giành cho bộ đội. Cảnh chợ chiều nhốn nháo, nháo nhào không khác gì lại một thứ tùy nghi di tản. Đã thế lại còn kiểm tra lên, kiểm tra xuống, lục lọi săm soi từng cái túi cóc ba lô tuồng như người ta cho rằng một núi của cải ở miền Nam sau giải phóng bị hư hao thất thoát, bị xâu xé, tranh đoạt, bị hốt vơ cào xúc cho đến sạch sành sanh là bởi anh bộ đội chứ không phải bởi bọn người nào khác…’’. Tại các ga tàu miền Bắc , khi các đoàn tàu dừng bánh ,“ loa phóng thanh oang oang trút vào tai đám lính đui què mẻ sứt mắt trắng môi thâm này hàng lô xích xông những lời dạy bảo trớ trêu nhất đời nào chống cầu an, chống đạn bọc lường, chống thói đam mê các tàn tích của xã hội phồn vinh giả tạo và nào là cần đặc biệt chống tư tưởng công thần?” Hòa bình nhạt nhòa dần qua năm tháng và rồi sau đó với những người lính chỉ còn là một thứ ký ức tủi hờn:“Về sau, mỗi khi được nghe người ta kể hoặc được xem phim, được thấy cảnh ngày 30 tháng Tư ở Sài Gòn trên màn ảnh: cười reo, cờ hoa, bộ đội, nhân dân, nườm nượp, bừng bừng, hân hoan, hạnh phúc… tự nhiên trong Kiên cứ nhói lên nỗi buồn pha cả niềm ghen tỵ.”
Nỗi niềm bi thảm của những người lính Việt Nam thời hậu chiến trong những trang viết của Bảo Ninh là có thực. Bi thảm không phải chỉ vì những ám ảnh dai dẳng của sự mất mát trong quá khứ mà còn bởi những thô bạo , tầm thường của hiện tại và cả sự vô định mù mịt của tương lai. Những tấm khẩu hiệu đã bị vứt đi . Những cái mặt nạ đã rơi xuống. Những phận người không biết về đâu . Nhiều người trong họ mãi đắm chìm trong quá khứ, không phải đang sống mà là đang mắc kẹt giữa cuộc đời . Nhiều người trong họ chán ngán hiện tại, ước phải chi được chết một cách yên ổn như thân phận con sâu cái kiến trong những ngày chiến tranh. Nhiều người trong họ không tìm thấy tương lai , lại háo hức muốn trở lại những giây phút hào hùng của cuộc đời chinh chiến khi binh lửa chiến tranh mấp mé ở hai đầu biên giới (1978_1979).
Tháng 4 năm 1975, Ủy ban Quân quản Thành phố về đóng cạnh nhà tôi. Đó là dịp tôi được tiếp cận những con người mà mười mấy năm qua chỉ nghe chứ chưa từng gặp. Họ là những chàng trai xứ Bắc , những người lính khắc khổ , dày dạn chiến trường nhưng phần lớn còn giữ được nét thuần phác giản dị đậm chất nông dân . Họ đội mũ cối , đi dép cao su và hình như ai cũng hút thuốc lào. Chập tối , giờ sinh hoạt , từ ngôi nhà họ ở vang lên những lời ca hùng tráng : “Vì nhân dân quên mình , vì nhân dân hy sinh…”, “Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước…”, “Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận …”. Ban ngày họ ra ngoài rụt rè ngỏ ý bán đôi ba thứ : cân đường cát , phong lương khô , bánh xà phòng …đều là hàng viện trợ của Liên Xô hoặc Trung Quốc , và cũng tìm mua đôi ba thứ : cái radio , cái casset cũ hay con búp bê , chiếc khung xe đạp xuất xứ Chợ Lớn … Đứa em nhỏ của tôi bấy giờ mới sáu tuổi , sau mỗi bữa cơm của mấy chú bộ đội lại xách cái rá chạy qua được mấy chú bộ đội tử tế gom cho những chỗ cơm thừa . Chỗ cơm ấy , chúng tôi đem rửa lại , xả sạch rồi phơi khô , đến bữa đổ thêm nước vào hấp lên là thành cơm ăn được .

Tiếp tục đọc

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

“Les Misérables” ở Việt Nam (tt)

Phần hai : Những người khốn khổ .

Đức giám mục nhân từ Bienvenu Myriel, như đã nói trên, là Người được mong đợi, là nhân vật quan trọng mấu chốt để mở ra câu chuyện cuộc đời của hàng loạt những nhân vật khác trong tác phẩm ‘’Những người khốn khổ” của Victor Hugo.Thế nhưng, không phải là Bienvenu Myriel , mà chính là những người khốn khổ, những kẻ bị dập vùi, đọa đày tận dưới đáy xã hội như Jean Valjean, như Fantien, như Eponine … mới thực là nhân vật trung tâm của “Les Misérables’’.
Bằng một trái tim dễ rung cảm trước nỗi bất hạnh của con người, bằng ý thức trách nhiệm của một trí thức dám dấn thân tới những vấn đề, những khía cạnh gai góc, tối tăm của xã hội , trong tác phẩm của mình Victor Hugo đã tỉ mỉ miêu tả cuộc sống xã hội Pháp những năm đầu thế kỷ XIX như một bức tranh đa màu sắc, trong đó nổi lên những cuộc cách mạng huy hoàng và cả những cảnh đời khốn khó. Trên nền cảnh bức tranh đó, người ta nhận ra một vấn đề nhức nhối của hiện trạng xã hội đang được đề cập đến, đó là: “ sự sa đọa của đàn ông vì bán sức lao động, sự trụy lạc của đàn bà vì đói khát, sự cằn cỗi của trẻ nhỏ vì tối tăm”.Jean Valjean , Fantien , Eponine…đều là những nạn nhân của cảnh đói nghèo cùng quẫn, của pháp luật khắc nghiệt. Cả thiên mệnh vô tình lẫn lẽ đời đen bạc đã xô đẩy những phận người mỏng mảnh đến bước đường cùng. Cái có thể cứu được họ khỏi sự tha hóa, sự vùi dập, sự chà đạp chỉ có thể là sự thấu hiểu, tình yêu thương của mỗi con người và cả cộng đồng chứ không phải là một thứ pháp luật lạnh lùng .
1/ Jean Valjean:
Trước hết, hãy nói về Jean Valjean.

Jean Valjean sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Lúc nhỏ, anh chẳng được học hành gì .Lớn lên, anh làm nghề xén cây. Nhìn bề ngoài con người anh không có gì đặc biệt.Cha mẹ mất từ hồi còn nhỏ dại, Jean Valjean bấy giờ sống với người chị góa chồng, trên tay bảy đứa con dại. Một cách mặc nhiên, Jean Valjean tự coi mình có bổn phận thay anh rể nuôi các cháu, không một lời ta thán.
Năm ấy trời làm rét quá, không có việc làm, cảnh nhà nghèo ngặt, không kiếm đâu ra miếng ăn cho một gia đình gồm bảy đứa cháu nhỏ đói khát. Đang đêm, Jean Valjean liều lĩnh đập cửa kính một cửa hàng bánh mì.Việc ăn cắp bị phát hiện và Jean Valjean bị tòa kết án năm năm tù khổ sai.
Chuyện đời vẫn như thế .Cái cây non đã bị chặt mất gốc. Bảy đứa trẻ vô tội như một nắm lá không biết tan tác về đâu. Khi chiếc búa tán đinh quai mạnh trên cái gông cổ phía sau gáy, người ta thấy anh nức nở nghẹn ngào, vừa giơ tay lên, hạ xuống bảy lần, mỗi lần mỗi hạ xuống thấp hơn, như anh đang lần lượt sờ đầu bảy đứa trẻ lớn nhỏ khác nhau. Hoàn cảnh thương tâm khiến lòng anh đâm ra đầy oán hận và đầy một nỗi khát khao vượt thoát chốn lao tù .Bốn lần vượt ngục khiến án tù của anh lên tới mười chín năm.
Ăn cắp, dù chỉ một cái bánh mì, cũng là có tội. Chính Jean Valjean cũng nhận ra sai lầm của mình. Nhưng để một người lao động phải thất nghiệp, để một người siêng năng phải đói khát , đó không phải chỉ là lỗi của anh ta, đó chính là lỗi của xã hội. Việc làm cho người lao động , miếng ăn cho người lao động, đó là tiếng kêu gào khẩn thiết của con người .Một xã hội văn minh phải lắng nghe và đáp ứng được tiếng kêu gào khẩn thiết đó. Đã có bao người phạm lỗi vì họ hoặc người thân của họ phải đói khát. Một thống kê cho thấy, trong năm vụ trộm cướp thì đã có bốn vụ do đói khát mà ra.
Mục đích của nhà tù không chỉ là trừng phạt mà còn để giáo hóa con người. Nhưng sự thật là mười chín năm lao động khổ sai trong nhà tù cũng không thể làm con người tốt đẹp hơn một mảy may nào. Không những thế, cái đen tối của chốn tù đày mỗi ngày mỗi trộn lẫn vào chất người, thấm vào bên trong con người và trở thành cái ác. Vào tù Jean Valjean là một người nông dân lương thiện, nhưng ra tù lại trở thành một tên lưu manh chuyên trộm cướp chính hiệu. Luật pháp khắc nghiệt rõ ràng là không làm được trách nhiệm giáo hóa con người. Và xem chừng cái giá mười chín năm cho một ổ bánh mì là chưa đủ, người ta còn muốn đối xử với Jean Valjean như một tội đồ chung thân bởi cái lý lịch tù đày của anh. Ngày ra tù, đi đến đâu anh cũng bị người ta xa lánh, xua đuổi, thậm chí có cố trả tiền cũng không thể mua được một bữa ăn, một chỗ ngủ.
Một con chó bị đuổi đến đường cùng sẽ quay trở lại cắn người. Một con người bị đẩy đến đường cùng sẽ làm gì??? Không thể chống trả lại sự lạnh lùng, khắc nghiệt của xã hội, mê muội, đắm chìm trong một nỗi thống khổ cùng cực, trong lòng kẻ mới ra tù Jean Valjean là một niềm uất hận vô biên.
Xây dựng hình tượng nhân vật “ người khốn khổ” Jean Valjean, nhà văn nhân đạo chủ nghĩa Victor Hugo đã kết hợp sử dụng cả hai bút pháp hiện thực và lãng mạn. Những bi thương của đời thường được miêu tả chân thực, tỉ mỉ, nhiều trang viết đi sâu vào nội tâm đầy những uẩn khúc để soi tỏ những đau đớn của một phận người. Ở ngoài đời, bất hạnh kiểu của Jean Valjean không phải là cá biệt. Thế nhưng trong “Những người khốn khổ”, sự biến cải của người Jean Valjean từ một tên tù khổ sai bị mọi người miệt thị trở thành ngài thị trưởng Madeleine được cả xã hội trọng vọng, điều ấy xảy ra hiếm hoi thần kì tựa như ánh chớp của tạo hóa giữa bầu trời quang đãng. Ánh chớp ấy được tạo ra bởi cuộc gặp gỡ định mệnh của một bên là Jean Valjean kẻ đang bị đày đọa trong nỗi thống khổ tột cùng, và một bên là Đức giám mục Bienvenu Myriel _người có tấm lòng từ ái mênh mông. Chỉ một lời nói nhân từ, một hành động cao quý , trong phút chốc, lòng thương đã làm được điều mà pháp luật chẳng thể làm trong suốt mười chín năm.Tên tù khổ sai Jean Valjean không chỉ được biến cải để được trở lại làm một con người bình thường mà hơn thế, còn trở nên thánh thiện, cao cả, uy nghi như một vị Thánh .Trong suốt cuộc đời còn lại của mình, cũng như Đức giám mục Bienvenu Myriel, Jean Valjean chỉ tâm nguyện một điều là sống để làm điều thiện, sống để cứu giúp những người khốn khổ như mình, thậm chí, với cả những kẻ đã có ác tâm hãm hại mình. Jean Valjean không chỉ luôn luôn nâng đỡ những kẻ khó nghèo, ông còn cố hết sức cứu giúp những cuộc đời bất hạnh như Cosette, Fantien. Với một người nông dân xa lạ bị hàm oan vì bề ngoài giống người tù khổ sai Jean Valjean mười mấy năm trước, Jean Valjean đã từ bỏ cả cái vỏ bọc bình an của một vị thị trưởng giàu có, đạo đức để cứu ông già tội nghiệp này khỏi cảnh tù đày. Trong cuộc đời còn lại của Jean Valjean, người ta tuyệt nhiên không còn nhìn thấy bóng dáng của sự căm giận, hận thù. Như Bienvenu Myriel, ông tha thứ cho hết thảy những kẻ ác với mình, kể cả với vợ chồng tên chủ quán côn đồ Thénardier, kể cả với thanh tra Javert, kẻ suốt đời rình rập để đưa ông trở lại chốn lao tù.
Tiếp tục đọc

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

“ Les Misérables” ở Việt Nam.

.
.
PHẦN MỘT: Bienvenu Myriel_Người cầm quyền được mong đợi.

Tôi đọc “Những người khốn khổ’’ (Les Misérables) của Victor Hugo lần đầu khi còn là một cô bé cấp II. Sau này lớn lên làm cô giáo , dạy học ở một làng quê, nơi mà niềm vui lớn nhất của mỗi ngày là thơ thẩn ,loanh quanh trong một cái thư viện nhỏ, tôi  có dịp đọc lại nhiều lần tác phẩm này. Và bây giờ cầm lại cuốn sách trên tay , sau bao nhiêu năm tháng, những cảm xúc về sự khốn khổ của con người từ những tháng ngày thơ trẻ ấy , lạ lùng thay , dường như vẫn ùa về  tươi mới ,nguyên vẹn.

     Tên tuổi của đại văn hào người Pháp Victor Hugo từ lâu không xa lạ gì với hầu hết bạn đọc Việt Nam và thế giới . Ông sinh ngày 26/2/1802 _ mất 22/5/1885 ; không chỉ là nhà văn mà còn là nhà thơ , nhà viết kịch , cũng đồng thời là nhà chính trị , một trí thức dấn thân tiêu biểu của nước Pháp đầy biến động với những cuộc cách mạng ở  thế kỉ XIX .

     Nói đến Victor Hugo , người đọc sẽ nhớ ngay đến những tác phẩm nổi tiếng của ông như ”Nhà thờ Đức Bà Paris”, “Người cười “, “Chín mươi ba”…,nhưng chính ”Những người khốn khổ “mới thực sự là tác phẩm văn học vĩ đại nhất vinh danh nhà văn người Pháp này.Trong 150 năm qua, “Những người khốn khổ “ đã được dịch ra nhiều thứ tiếng , được chuyển thể thành hàng chục tác phẩm điện ảnh , nhạc kịch , múa ballet … Sự vĩ đại của tác phẩm trước hết là ở chỗ , nhà văn đã dấn thân vào thế giới cuộc sống của những kẻ khốn khổ , nhục nhằn tận dứới đáy xã hội  để nhìn thấy chân giá trị của con người , hơn thế , để nói lên tiếng nói vinh danh  phẩm giá  con người.
Toàn bộ  tiểu thuyết “Những người khốn khổ”xoay quanh câu chuyện về cuộc đời của một người tù khổ sai tên là Jean Valjean .Chỉ vì cái tội ăn cắp một ổ bánh mì cho những đứa cháu nhỏ đói khát , Jean Valjean phải chịu án tù  năm. Vào tù , rồi vượt ngục ,  lại vào tù, rồi lại vượt ngục , cứ như thế đằng đẵng trong suốt 19 năm. Khi mới vào tù còn là một anh làm vườn lương thiện khóc lóc, run sợ trước các quan tòa nhưng ra tù lại là tên lưu manh gan góc, trơ lì như đá, lòng đầy căm giận với cuộc đời .Tâm hồn Jean Valjean như   một hố thẳm đầy bóng tối và  tuyệt không một niềm hy vọng .

     Thế nhưng cuộc đời Jean Valjean đã hoàn toàn thay đổi bởi cuộc gặp gỡ với vị giám mục nhân từ Bienvenu Myriel  .

     Không phải ngẫu nhiên mà Victor Hugo đã dành những chương đầu rất tâm huyết , trang trọng trong tiểu thuyết“Những người khốn khổ” để nói về Đức giám mục Myriel.Đó là nhân vật  khởi đầu , một nút thắt mở ra mối liên hệ với hàng loạt các nhân vật chính và phụ trong tác phẩm. Không có giám mục Myriel thì cũng không có thị trưởng Madeleine ,  chẳng thể có những câu chuyện dài về  Fantien và Cosette và những tấn bi kịch cuộc đời của những kẻ khốn cùng cũng chẳng thể nào kết thúc.

     Đức giám mục Myriel , vốn con nhà quý tộc , thời thanh niên là một chàng công tử bay bướm  hào hoa, theo nếp cũ của gia đình  mà có vợ rất sớm. Thế rồi Cách mạng ập đến , sự sụp đổ của xã hội cũ , sự sa sút của gia đình , những cảnh tượng bi thảm…Những biến cố dữ dội ấy đã giáng vào trái tim Myriel một ngón đòn thần bí , kinh khủng .Chuyện gì đã xảy ra? Không một ai có thể trả lời .Chỉ biết là sau bao năm lưu vong ở Ý trở về ,  chàng công tử Myriel tóc xanh ngày trước từng bao lần bồng bột , đắm say , có thể là dữ dội nữa , giờ đã trở thành một vị giám mục tóc bạc rất mực  nhân hậu ,chính trực , khoan hòa.

     Làm giám mục, Myriel sống một cuộc đời thanh đạm , từ chối mọi xa hoa. Năm 1815 , khi mới về Digne nhậm chức, ông được cấp một dinh thự thật to lớn , lịch sự . Dinh thự ấy lại nằm kế bên một nhà thương  bé nhỏ , tồi tàn. Ba hôm sau , Đức giám mục sang thăm nhà thương, sau đó ông mời giám đốc nhà thương đến nhà và nói với ông ấy câu này:

      “Này, ông giám đốc, tôi nói điều này: theo tôi thì có lẽ có sự nhầm lẫn gì đây. Các ông đến hăm sáu người, mà xếp vào năm sáu căn buồng con. Còn chúng tôi ở đây có ba người mà chiếm cả một ngôi nhà có thể chứa sáu chục. Đúng là người ta nhầm. Các ông đã chiếm nhà tôi còn tôi thì lại ở nhà các ông. Xin ông trả lại nhà cho tôi. Nhà của các ông là ở bên này đây.”

Ngay hôm sau, hai mươi sáu bệnh nhân nghèo được sang ở dinh giám mục và ông giám mục dọn đến ở bên nhà thương.

Về tiền lương giám mục được mười lăm ngàn Franc mỗi năm , ông chi tiêu như sau :

Bản ghi những khoản chi tiêu trong nhà:

– Cấp cho chủng viện 1.500
– Hội giảng đạo 100
– Cấp cho nhà tu dòng Lazariste de Montdidier 100
– Trường tu sĩ hội truyền giáo nước ngoài ở Paris 200
– Hội đức Thánh Thần 150
– Cơ sở giáo hội ở Đất thánh 100
– Nhà dục anh 300
– Cấp riêng cho nhà dục anh ở Arles 50
– Công cuộc cải thiện nhà lao 400
– Công cuộc ủy lạo và phóng thích tù nhân 500
– Để phóng thích những gia trưởng bị tù vì nợ 1.000
– Phụ cấp các thầy giáo ít lương trong địa phận 2.000
– Cấp cho kho lúa nghĩa thương vùng Hautes-Alpes 100
– Cấp cho các trường con gái nghèo của Hội từ thiện ở  Digne,Manosqu, và Sisteron1.500
– Cấp cho kẻ khó 6.000
– Khoản chi tiêu cho riêng mình 1.000
Tổng cộng :15.000 Franc

     Với 1000 Franc trích từ số lương bổng 15.000 Franc, cô em gái của ông phải lo liệu việc ăn ở , chi tiêu cho cả 3 người trong cả một năm.Rõ ràng là cô em đã phải giỏi chắt bóp, tằn tiện lắm  mới đủ cho họ có mức sống ngang bằng những người dân nghèo trong vùng.
Cuộc sống thanh đạm , từ chối mọi xa hoa ấy khiến một số người không ưa ông và có người  đồ rằng ông đạo đức giả .Nhưng không ,nói sao làm vậy ,  bao nhiêu năm ông vẫn sống như thế .Giảng đạo ở giáo đường , ông kêu gọi :”  Hỡi các giáo hữu! Hãy mở lòng nhân! Hãy xem chung quanh các bạn người ta khổ như thế nào”.

Tiếp tục đọc

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

TÌNH YÊU THỜI THỔ TẢ _GARCIA MARQUEZ

.
.

Câu chuyện  một gia đình  6 người chết trong một cuộc thảm sát vì tình ở Bình Phước đầu tháng 7/2015 vừa qua làm đã làm rúng động nhân tâm cả nước. Bấy giờ người ta mới sững sờ, thảng thốt hỏi nhau: điều gì  khiến một chàng trai trẻ mới hai mươi bốn tuổi  trở nên tàn độc, vô nhân tính với những người từng là người hắn hết lòng thương yêu như vậy, tình yêu chăng, mà tình yêu thì có tội gì???
+ + + + +
  Câu chuyện bi thảm trên làm tôi nhớ đến một tiểu thuyết khá nổi tiếng của nhà văn người Colombia , đại diện tiêu biểu của nền văn học Mỹ Latinh. Ông là  Gabriel José García Marquez, tác giả tiểu thuyết “Tình yêu thời thổ tả.”
  
   Gabriel José García Marquez sinh ngày 6/3/1927, mất ngày 17/4/2014,  từng được trao giải Nobel văn học năm 1982. Nói đến García Marquez người ta hay nhắc đến tiểu thuyết đậm chất hiện thực huyền ảo “Trăm năm cô đơn ’’, thế nhưng “ Tình yêu thời thổ tả ”cũng có thể được xem là  thành công rực rỡ của García Marquez ở một phương diện khác. Câu chuyện tình yêu trong “Tình yêu thời thổ tả  ” được Tạp chí New York Times đánh giá là một trong những thiên tình sử đẹp nhất mọi thời đại, là “Tuyên ngôn cho sự bất diệt của trái tim ”.Scott Stein-dorff, người mua bán quyền làm phim tác phẩm này nói : “Cùng với Romeo và Juliet của đại văn hào người Anh Shakespeare, đây là câu chuyện tình lớn nhất cho tới nay được kể ra. Nó đã khiến cho hầu hết các bậc mày râu chúng ta thấy mình thực sự bất hạnh bởi không được tận hưởng vẻ đẹp lãng mạn của tình yêu đó”. Cần nói thêm, câu chuyện tình yêu trong đời thực của cha và mẹ  García Marquez chính là nguồn cảm hứng cho nhà văn viết nên tác phẩm này.
   Trước hết, xin nói về nhan đề truyện lạ lùng, độc đáo: “Tình yêu thời thổ tả .” Có thể có mối quan hệ gì  giữa tình yêu, vốn là một khái niệm long lanh,  vời vợi như những vì sao xanh trên trời với một chứng bệnh rất đời thường khá phiền phức và thô thiển của con người? Có đấy ! Câu chuyện tình trong tiểu thuyết này mở đầu với bối cảnh  của vùng cảng biển  Caribê vào những năm 1880, khi mà đất nước Colombia còn là một xứ sở thuộc địa của đế quốc Tây Ban Nha. Vào thời ấy , đại dịch thổ tả đang hoành hành  trên khắp nơi sau 7 lần bùng phát, bắt đầu từ Ấn Độ, lan rộng đến nước Nga qua các đường vận tải, tiếp theo là Châu Âu và Bắc Mỹ theo những chuyến di dân. Kết thúc câu chuyện  ,để được  bình yên bên nhau, đôi tình nhân sau hơn 50 năm xa  cách phải sống trên một chiếc tàu thủy. Chiếc tàu thủy ấy có treo một lá cờ vàng, dấu hiệu trên tàu có người đang mắc bệnh thổ tả, vì vậy phải cách ly hoàn toàn với thế giới của con người. Hình ảnh chiếc tàu thủy với lá cờ vàng trên vùng cửa sông Macgơđalêna ngầu bùn mênh mông như ở tận bên kia thế giới vô hình trung đã trở thành biểu tượng đẹp của tình yêu, hơn thế nữa, cũng có thể xem là hình ảnh đẹp đẽ lãng mạn duy nhất còn lưu dấu  lại trong văn chương, trong kí ức nhân loại sau những thảm họa kinh hoàng của 7 lần đại dịch tả  cướp đi sinh mạng hàng chục triệu con người . 
   Hai nhân vật chính trong tiểu thuyết “Tình yêu thời thổ tả ‘’ của García Marquez là Phlorentino Arixa và Phecmina Đaxa. Mối tình trái ngang của họ là một trường hợp khá điển hình trong đời sống thực . Phlorentino Arixa là đứa con ngoài giá thú, sống với mẹ  là người  bán hàng vặt ngụ trong  ngôi nhà thuê của một  xóm nghèo.Trong khi đó, Phecmina Đaxa  mẹ chết lúc còn nhỏ,  cha là một nhà buôn giàu có mới phất lên. Nói hai gia đình không môn đăng hộ đối thì không chính xác, nhưng rõ ràng giữa hai người trẻ tuổi đã có sẵn một hố sâu ngăn cách, một sự chênh lệch khó lòng xóa bỏ giữa giàu và nghèo. Phlorentino Arixa bấy giờ mới mười tám tuổi, một điện báo viên bình thường, người gầy gò xanh xao, cặp kính cận dày, nom lúc nào cũng có vẻ cô đơn. Một ngày, Phlorentino Arixa đến nhà Phecmina Đaxa để trao cho cha cô một bức điện báo, khi đi ngang ngoài cửa sổ, tình cờ thấy Phecmina Đaxa  mười ba tuổi , đang ngồi học bài, cô đã ngước nhìn lên,  và cái nhìn ngẫu nhiên ấy là khởi thủy của một tấn bi kịch tình yêu mà hơn một nửa thế kỷ sau vẫn chưa kết thúc!
   Hai tuần sau đó Phlorentino Arixa sống mà tâm tưởng lúc nào cũng chỉ nghĩ đến Phecmina Đaxa  . Anh viết một bức thư dày hơn sáu mươi tờ giấy viết kín hai mặt và tìm mọi cách trao bức thư cho cô bé thiên thần của mình. Cũng  từ khi gửi thư, nỗi khắc khoải mong đợi  đã khiến anh ốm nặng: bụng quặn đau, nôn mửa, mạch chìm đi, hơi thở khò khè, mồ hôi vàng như mồ hôi người bệnh sắp chết. Bà mẹ Phlorentino Arixa phát hoảng vội mời thầy thuốc, hóa ra, mặc dù triệu chứng rất giống, Phlorentino Arixa không bị mắc bệnh thổ tả, anh chỉ khốn khổ vì mắc bệnh tương tư!
  
   Về phần Phecmina Đaxa, cô thiếu nữ xinh đẹp có dáng đi kiêu hãnh của một loài “hoẵng cái”, ban đầu là sự ngạc nhiên, tò mò, và rồi không biết tự bao giờ sự tò mò ấy biến thành nỗi khát khao mong đợi những lần gặp mặt, những lá thư mà ngày nào họ cũng viết cho nhau.Tình yêu trong lòng người thiếu nữ, ban đầu chỉ là một đốm lửa,  dần dần đã trở thành một đám cháy.
   Nhưng hiển nhiên là Lorenxo Đaxa, ông bố của Phecmina Đaxa, không bao giờ có thể chấp nhận một cuộc hôn nhân không cân xứng như vậy. Vốn chỉ là một kẻ buôn lừa, không biết đọc cũng không biết viết, chỉ có quyết tâm làm giàu và ông đã làm việc cật lực đến mức không một con lừa nào của ông sánh kịp.Từ khi vợ chết, Lorenxo Đaxa chỉ có một mục đích phấn đấu duy nhất là để cô con gái thành một bà lớn. Và sự xuất hiện của chàng trai trẻ Phlorentino Arixa đã thành một trở lực cho tất cả những dự định đó.Với một khẩu súng lục trong tay, Lorenxo Đaxa nói chuyện với Phlorentino Arixa. Cuộc nói chuyện bất thành, biết không thể lay chuyển được ý chí của chàng trai, ngay trong tuần lễ đó, ông bố đem người con gái đi xa thật xa.
    Phecmina Đaxa  đã mười tám tuổi, ngày càng trở nên xinh đẹp và kiêu hãnh hơn xưa. Thời gian  làm cho mọi chuyện trở nên mờ nhạt và cô gái nhận ra chuyện tình yêu với Phlorentino Arixa ngày xưa chỉ là một chuyện hoang đường. Khoảng thời gian ấy, bệnh tả đang lan tràn, chỉ trong mười một tuần lễ mà gây ra nạn chết người chưa từng có trong lịch sử nước nhà. Người chết ngã sóng sượt trên những vũng bùn ở chợ, nghĩa địa đầy ứ người và các nhà thờ cũng không còn chỗ để chôn cất tử thi. Phecmina Đaxa  có vẻ như đang có những triệu chứng của bệnh tả. Điều đó khiến bố cô rất lo lắng và lập tức ông cho mời bác sĩ đến khám bệnh cho Phecmina Đaxa  .
  
    Bác sĩ Huvênan Ucbinô, hai mươi tám tuổi, trở về tổ quốc sau một thời gian dài học tập ở Pari, là niềm ngưỡng mộ của tất cả các cô gái trong thành phố. Kết quả chẩn đoán của ông là Phecmina Đaxa  chỉ  bị rối loạn tiêu hóa,  điều trị tại gia trong ba ngày là khỏi. Nhưng bác sĩ Huvênan Ucbinô sau đó còn trở lại ngôi  nhà của Phecmina Đaxa  nhiều lần .Bác sĩ sĩ Huvênan Ucbinô từng là người hùng chiến đấu rất kiên cường với đại dịch tả nhưng lại hoàn toàn gục ngã trước sắc đẹp và sự kiêu hãnh của Phecmina Đaxa; và ông bố  Phecmina Đaxa thực sự không có mong muốn gì hơn là một chàng rể học thức, giỏi giang, con nhà dòng dõi và giàu có như vậy .
   Khi Phlorentino Arixa biết chuyện Phecmina Đaxa  sẽ kết hôn cùng bác sĩ Huvênan Ucbinô, anh phát ốm  không tài nào dậy nổi.  Anh không ăn, không nói và trắng đêm khóc sướt mướt.Bà mẹ rất sợ hãi đã hết lời yên ủi con mình, và rồi bà tìm mọi cách khẩn cầu một người bà con cho anh làm việc trong một hãng tàu thủy, mục đích là rời xa thật xa khỏi thành phố cần được lãng quên này.
  Năm mươi mốt năm chín tháng bốn ngày sau đó, mà mỗi ngày đều như được vạch một vạch để đánh dấu, Phlorentino Arixa đã trở thành ông chủ Hãng tàu thủy Caribê  giàu có. Thời gian ấy,  ông cũng đã trải qua 622 mối tình, mà mỗi mối tình đều được ghi chép tỉ mỉ vào một cuốn sổ. Mặc dù vậy, không một ngày nào, không một mối tình nào có thể làm cho Phlorentino Arixa nguôi quên được Phecmina Đaxa. Cả cuộc đời đã qua và còn lại của ông dường như chỉ hướng tới một mục đích cuối cùng, một mục đích duy nhất là chờ đợi ngày Phecmina Đaxa  trở lại với ông .Ông đã chờ đợi cái ngày ấy với  một khát vọng tình yêu mà không một trở lực nào của cõi đời hoặc cõi thần có thể  bẻ gãy được.
  
   Những thách thức,  trở lực mà Phlorentino Arixa phải đương đầu để đạt đến khát vọng tình yêu của mình quả thực rất ghê gớm, bởi cuộc hôn nhân của bác sĩ Huvênan Ucbinô và Phecmina Đaxa  trong mắt người đời chừng như rất lâu bền và viên mãn. Bác sĩ Huvênan Ucbinô không chỉ là một công dân sáng giá của thành phố mà còn là một ông chồng mẫu mực trong gia đình. Phecmina Đaxa quý phái , trang nhã  đúng kiểu một phụ nữ tầng lớp thượng lưu, bà  thường xuyên xuất hiện các hoạt động từ thiện và giao lưu văn hóa xã hội. Không ai ở bên ngoài có thể chê trách điều gì về cuộc sống của đôi vợ chồng này. Hai người vừa mới tổ chức lễ kỉ niệm Đám cưới vàng vào năm ngoái và Phecmina Đaxa  khi ấy đã ngoài bảy mươi. Tuổi già làm họ càng gắn bó với nhau đến mức người này sống không thể thiếu  người kia.Từ lâu, đã không còn ai đặt tay lên ngực chỗ trái tim mình mà tự hỏi: cuộc hôn nhân của họ có được bắt đầu từ tình yêu không ? Và từ lâu , cả hai đã đều muốn quên đi câu trả lời .
By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

ĐỌC LẠI “ ANH EM NHÀ KARAMAZOV” CỦA DOSTOIEVSKI

.
.

Thuở bé , tôi là đứa trẻ mê đọc sách. Mê đến nỗi , có lần ngồi nấu cơm , mải mê đọc sách , lửa bén vào ống quần , cháy lúc nào không biết. Năm ấy tôi mười lăm tuổi.
      Mười lăm tuổi, đọc nhiều sách nhưng không phải sách nào đọc  cũng hiểu .Càng không thể hiểu hết  tầng tầng lớp lớp ngữ nghĩa có thể có  ngay trên từng trang giấy  mỏng manh. Kì thực, có những cuốn sách cần phải được cảm hiểu bằng những trải nghiệm của cả một cuộc đời.
       “ Anh em nhà Karamazov” của Dostoievski là một cuốn sách như thế.
 
        *****
 
         Dostoievski (1821_1881) viết “Anh em nhà Karamazov” trong khoảng thời gian  từ 1878 đến1880 , là tác phẩm cuối cùng mà cũng là tác phẩm vĩ đại nhất trong cả cuộc đời 40 năm lao động nghệ thuật của đại văn hào người Nga này .Ở đây kết tinh tất cả tài năng của một ngòi bút tinh xảo  bậc thầy , hội tụ tất cả những ý tưởng nhân văn mà Dostoievski giãi bày được một phần trong những tác phẩm nổi tiếng trước đó của ông như “Lũ người quỷ ám” , “Tội ác và trừng phạt”…  Herman Hexxo, nhà văn Đức thời nay viết: “Một con người đơn độc mà viết nổi “Anh em nhà Karamazov” thì đó là phép màu”.  
 
   “ Anh em nhà Karamazov”là câu chuyện của cuộc đời được nhà văn hư cấu ít nhiều nhưng những tình tiết cốt lõi của truyện có nguồn gốc  từ ít nhất từ hai câu chuyện có thật mà Dostoievski được nghe kể lại trong thời kì ông đang lao động khổ sai tại Omsk, thuộc tây nam miền Xibia .Một người bạn tù của ông bị kết án hai mươi năm tù khổ sai vì tội giết cha. Sự thật , kẻ sát nhân lại là đứa em trai muốn  được  một mình thừa kế hết gia tài của bố. Mười hai năm sau , vì không chịu nổi những sự giày vò ân hận triền miên, người em ra  tự thú và tự nguyện xin được đi đày .
 
     Một chuyện thứ hai nữa Dostoievski  được nghe kể khi ở Tobonsk. Có hai anh em trai , người em âm thầm say mê cô vợ chưa cưới rất xinh đẹp của người anh. Người anh vốn ăn chơi hoang đàng lại hay xích mích với bố. Thế  rồi một ngày ông bố mất tích và mấy ngày sau người ta thấy xác ông bố trong hầm nhà .Người anh bị buộc tội và kết án tù khổ sai.Người em kết hôn với cô vợ chưa cưới của người anh  . Bảy năm nữa trôi qua, mặc dù thành đạt trong cuộc sống nhưng người em luôn bị chứng u uất giày vò .Anh thú nhận với vợ ,đến cả nơi người  anh trai đang chịu án tù khổ sai để ăn năn tội lỗi  . Và một ngày , trong lễ sinh nhật của mình , anh nói trước mặt mọi người : “ Tôi mới là kẻ giết cha” khiến người ta tưởng anh bị điên. Cuối cùng , anh ta đến nhà tù xin được chịu án thay anh trai của mình.
 
        Từ những câu chuyện đời thực đầy thống khổ , bi ai , bằng những trải nghiệm của một cuộc đời cũng lắm khi cay cực, sóng gió , Dostoievski đã viết nên trường thiên tiểu thuyết “Anh em nhà Karamazov”. “Anh em nhà Karamazov” trước hết là câu chuyện về sự tan rã của một gia đình  .Một ông bố có hai bà vợ với ba người con trai chính thức , một người con trai khác là kết quả của một sự cưỡng hiếp với một người đàn bà gần như điên dại .Họ sống với nhau trong một ngôi nhà nhưng trong lòng luôn đầy sự  hằn học , căm giận lẫn nhau_ ngoại trừ người con trai thứ vốn rất từ tâm , nhân hậu Aliosa. Đỉnh điểm  của những mâu thuẫn trong gia đình là khi cả ông bố Fedor Pavlovich  và người con trai trưởng Mitia Karamazov cùng say như điếu đổ người đàn bà đẹp Grusenka và cùng muốn được một mình chiếm giữ Grusenka cũng như phần gia tài mẹ Mitia để lại .Uất ức , giận dữ ,giữa chốn đông người , Mitia Karamazov nhiều lần lớn tiếng đòi giết cha. Và khi ông bố Fedor Pavlovich   chết đi một cách đột ngột , bí ẩn , mọi sự nghi ngờ đều đổ dồn vào Mitia Karamazov. Không là kẻ sát nhân  , nhưng Mitia chấp nhận nỗi khổ đau bị buộc tội để giải thoát mình khỏi nỗi đau đớn vì anh cho rằng mình quả là  đã phạm  tội khi có ý nghĩ muốn giết cha . Mitia chịu án lưu đày khổ sai.  Smerdyakov , người con trai của bà mẹ điên , kẻ giết cha thực sự , tự tử. Ivan Karamazov , đứa con trí thức,thành đạt ,kẻ vạch đường cho vụ giết người  trở thành kẻ mất trí. Cuối cùng của thiên truyện, cả gia đình Karamazov tan tác ,chỉ còn một mình Aliosa chuyên tâm , cần mẫn làm người thầy dạy học với hy vọng có thể dạy cho thế hệ sau này  biết cách yêu thương để tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn.
 
      *****

Tiếp tục đọc

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

NGOẠI

Ngoại tôi con gái chân quê, cha mẹ nghèo, anh em đông, năm sáu tuổi đã ra đồng hái rau bắt ốc. Một ngày, ông ngoại tôi, cậu ấm nhà giàu, cưỡi ngựa đi qua, thấy bà giặt áo bên cầu, quần xắn cao quá gối, bắp chân trắng như bông bưởi, má đỏ hây hây, bèn đem lòng yêu rồi xin cưới bà tôi, ấy là vào năm một ngàn chín trăm … xa lắc.

Bốn người con lần lượt ra đời, vừa lỉnh nhỉnh hơn củ khoai thì ông ngoại tôi mất. Một cái nhọt ban đầu chỉ như cái đầu đinh, sau dần to ra như cái bát vỡ chứa đầy máu mủ. Bấy giờ chưa có thuốc kháng sinh, bà tôi dù hết lòng chạy chữa bằng các thứ lá giã rồi đắp, hết lòng bồi bổ bằng cháo cá trê vàng hầm đâụ xanh, bằng cá giếc nấu rau răm… mà ông tôi cũng không qua được. Điều lạ lùng là đứa cháu đích tôn sau này của ông không hiểu vì sao khi sinh ra có một cái bớt đen to tướng vĩnh viễn trên da thịt ngay chỗ ngày trước ông bị nhọt. Vậy là bà góa chồng lúc mới ngoài ba mươi, đôi má vẫn đỏ hây hây , bắp chân vẫn trắng như bông bưởi. Nhưng ngoại tôi không lấy chồng nữa. Có lẽ bà cũng cùng nếp nghĩ thuần phác của những người đàn bà quê Việt bấy giờ, bà ở vậy thờ chồng nuôi con. Từ một lưng vốn nho nhỏ , bà sắm một gánh hàng ngày ngày ra chợ, hết Vĩnh Linh rồi Đồng Hới, Đông Hà… bà nuôi bốn người con nhỏ qua những năm tháng gieo neo và đầy chiến sự.

Người con trai lớn, thông minh, lanh lợi nhất nhà, mới mười sáu tuổi đầu đã say sưa lao vào hoạt động cách mạng, đi biền biệt không về. Năm 1954, cậu nhờ người nhắn mẹ gánh em ra vĩ tuyến mười bảy. Mẹ con , anh em gặp nhau một lần ngắn ngủi, rồi thôi. Sau này cậu ở luôn ngoài Bắc, lấy vợ, có hai con, nghe đâu cũng lắm nỗi đoạn trường chìm nổi vì lấy mợ tôi là con gái nhà địa chủ. Cậu hy sinh ở chiến trường B năm 1967. Người con trai thứ hai lận đận đủ thứ quân dịch, tù đày, rồi vào lính , lập gia đình sinh sống ở Quy Nhơn. Người con gái thứ ba(mẹ tôi) lấy chồng ở Huế. Người con gái út tuổi dần theo chồng đi xa. Còn lại một mình ngoại tôi trong ngôi nhà nhỏ bên dòng sông Mỹ Chánh, vẫn một gánh hàng ngày ngày ra chợ. Mẹ tôi mỗi lần sanh nở lại về ngoại cho đến khi đứa nhỏ ăn được cơm mớm của bà. Ba tôi từng đi học tận bên Mỹ, thấy bà nhổ nước trầu, quẹt miệng rồi nhai cơm cá mớm như kiểu chim mẹ mớm mồi cho con, cho là mất vệ sinh bèn nói khéo để mẹ con bồng bế nhau về. Thế là hàng tuần, bà đón xe từ Mỹ Chánh vào tận Huế để thăm cháu thăm con. Hồi đó tôi còn nhỏ xíu, mới năm sáu tuổi đầu , nhưng tôi còn nhớ rõ ràng hình ảnh ngoại tôi mỗi lần bà đến thăm. Người tầm thước, nước da dù dầu dãi mưa nắng vẫn đỏ hồng, mái tóc đã ngả màu muối tiêu trong cái khăn trùm bằng nỉ màu bả trầu, bà hay mặc cái áo bà ba nâu bạc, cái quần đen, bên ngoài là cái áo dài màu rêu to đùng, cũ kỹ…Bà xuống xích lô bước vào nhà, chúng tôi ba bốn đứa lúc thúc chạy theo níu áo, níu giỏ. Chưa kịp ngồi xuống ghế phẩy phẩy cái nón cho mát, bà đã hỉ hả hun hít thằng cu Ti , cu Bê, con bé Lệ Hà nhõng nhẽo của bà. Sau đó thế nào cũng nghe tiếng mẹ tôi :”Trời ơi , mạ đem những thứ này vào làm gì?” Thì ra, ngoài nồi giò heo chặt khúc kho nghệ vàng hườm hoặc nồi cá lúi kho tiêu.. lại còn không biết bao nhiêu chanh non, ổi già … bà vặt sạch trong vườn đem vào cho cháu. Trong khi mẹ càm ràm ,ca cẩm, nhăn nhó thì bà cứ cười hỉ hả :”Kệ , đem cho tụi hắn ăn, để thèm tội nghiệp, con…”

Tiếp tục đọc

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

KỶ NIỆM HỌC TRÒ.

.

Bây giờ thì tôi đã là cô giáo, ra đường gặp mọi người thường thoảng một vẻ trang nghiêm. Nhưng phải chăng trước đây, tôi không từng là một cô bé học trò hồn nhiên và hay nghịch ngợm. Ôi, cái thuở còn là học trò thật dễ thương, thoáng chốc đã mấy chục năm rồi…
    Có biết bao nhiêu buồn vui đã qua đi trong những ngày tháng ấy? Và bao nhiêu điều đã trở thành những kỉ niệm không thể nào quên? Nào những buổi chiều mưa xứ Huế, giờ ra chơi, mấy cô học trò nhỏ áo đầm trắng, áo ấm đủ màu che chung một cái dù chạy ra nhà bà cai trường ăn mực nướng. Con mực khô màu nâu sẫm bé chỉ bằng hai ngón tay út cong giòn trên lửa than, thơm lừng lựng, lại phết thêm một đũa tương ớt cay xè, ngon ơi là ngon! Mấy đứa vừa ăn vừa hít hà, vừa phủi những bụi mưa trăng trắng, li ti bám đầy trên áo, trên tóc. Nào những chiều hè thơ thẩn bên tường thành Đại nội để hái hoa lồng đèn và trái cứt chuột về chơi bán hàng. Hoặc đến nhà nhỏ Thu Trang đọc truyện. Trời ơi, cả một tủ đầy sách truyện, một thế giới lạ lùng kỳ diệu mà mánh đất nào bạn cũng có thể là những Christopher Columbus đầu tiên. Ngôi nhà vắng vẻ không bố mẹ, chỉ có mấy cô học trò và sách. Đọc chán, cả bọn rủ nhau ra vườn hái ổi, có khi lại bò sang hàng rào nhà bên để nhổ trộm cà rốt. Bạn đã bao giờ thấy những luống cà rốt được chăm sóc tưới tắm kỹ lưỡng chưa? Nó thật xinh đẹp, ưa nhìn với những đầu lá xanh mướt như lá ngò vẫy vẫy trong gió nhẹ. Nhưng tuyệt diệu nhất là những củ cà rốt hồng hồng mới lớn bằng ngón chân cái mà chúng tôi rửa sơ rồi nhai rau ráu như những con thỏ. Ôi, những củ cà rốt thời thơ ấu, hồng tươi, giòn ngọt biết bao nhiêu!
    Nói đến Huế không thể không nhớ đến trường nữ tiểu học Đoàn Thị Điểm – một ngôi trường cổ kính mà mỗi khung cửa lớp đều giăng giăng những giàn dây leo xanh hoa tím. Sân trường đỏ rợp những hàng phượng vĩ mỗi độ hè về. Sang xuân, khi những vòm lá phượng bắt đầu xanh non thì cũng là lúc không biết bao nhiêu con sâu xanh nho nhỏ từ trên cành cao buông mình lắc lư trong gió, làm cho bao nhiêu cô bé học trò giật mình sợ hãi khi bất chợt một chú sâu mơ mộng nơi trên tóc hoặc bò thơ thẩn trên áo trắng của các cô nàng.
     Sau biến cố Mậu Thân  theo gia đình vào Đà Nẵng, tôi theo học ở một trường trung học. Ngôi trường nằm phía đông sông Hàn, xanh ngắt những bóng bạc hà với những chiếc lá thon dài như ngón tay con gái. Tên trường thật lạ và dễ thương: trường ĐÔNG GIANG. Lúc này cô học trò bé nhỏ ngày xưa đã lớn lên. Lòng yêu thích văn chương từ thuở bé đã thành hình. Những giờ học văn và đọc sách truyện trở thành những đam mê, còn các giờ toán và các thầy dạy Toán trở thành nỗi sợ hãi bất tận.Năm tôi học lớp 6 và 7 thì còn chưa đến nỗi nào. Thầy Nguyễn Ba lúc âý mới ra trường. Thầy đẹp trai và vui tính, hiền lành, có lẽ vì thế mà tôi thấy những bài đại số và hình học gì đó của thầy khá dễ hiểu. Nhưng lên lớp 8 thì tình hình bắt đầu thay đổi. Thầy dạy toán mới với bộ râu quai nón thật là nghiêm khiến tôi và có lẽ nhiều bạn nữa chết khiếp mỗi khi đến giờ của thầy. Điểm số cứ thấp dần đi khiến ba tôi phải nghĩ đến việc kèm cặp thêm môn toán cho con gái của mình. Mỗi ngày tôi đều phải làm thêm một số bài toán. Mỗi buổi chiều không có giờ ở trường là tôi phải theo ba đến Tổng y viện  Duy Tân – nơi ông làm việc để theo học với một ông thầy bất đắc dĩ – một anh lính mới tò te nào đó. Còn ngày chủ nhật mỗi tuần thì không còn là ngày của Chúa mà là ngày của địa ngục. Chúa ơi, tôi còn nhớ rõ như in những cảm giác khổ sở của tôi trong những ngày xa xưa đó. Tôi ước ao trái đất đến ngày tận thế,tôi mong mình là một con bé côi cút , bất hạnh nào đó để khỏi phải học hành.Vậy mà trái đất chưa đến ngày huỷ diệt và tôi vẫn cứ là một con bé khốn khổ là tôi. Chầm chầm từng phút một, khi công việc của buổi sáng xong xuôi là lúc trái tim tôi bắt đầu quặn thắt lại khi nghe tiếng gọi trầm trầm của ba tôi: “Hà, đem sách toán lại đây!”

Tiếp tục đọc

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

VỀ AN BIÊN.

     Định là sẽ đi sớm, nhưng lần lữa việc này việc khác, mãi đến hôm nay 28 tháng 9 2014, Đông Giang Sài Gòn mới thực hiện được ý nguyện về An Biên của mình.

     Sáu giờ sáng,  chiếc Inova bảy chỗ ngồi đưa chúng tôi thẳng tiến về Rạch Giá.

     Cặp đôi hoàn hảo Thông _Thiệp (khóa 9 và khóa 10 ĐG ) vốn chu đáo đã chuẩn bị đầy đủ buổi sáng gồm café và bánh mì. Trên xe, chúng tôi vừa ăn vừa trò chuyện vui vẻ. Lần nào cũng vậy, hễ gặp nhau là bà tám đủ thứ trên đời. Ai cũng nhớ cũng vào tháng 9 này năm ngoái khăn gói rộn ràng về với Đông Giang .

      Xe ra khỏi thành phố về phía Long An, vào cao tốc Trung Lương rồi bon bon trên những dặm đường qua Tiền Giang,  Vĩnh Long, Đồng Tháp …Qua những phố  xá, những khu công nghiệp, cảnh sắc những làng quê sông nước dần hiện ra vừa quen thuộc vừa có nét đặc thù. Những đồng ruộng mênh mông tít tắp, những miệt vườn cây trái sum suê, những con sông đục ngầu phù sa …Và những căn nhà lá dựng bên sông.  Mảnh đất phương Nam màu mỡ vậy mà nhiều  người con của phương Nam cho đến bây giờ  lại vẫn cứ sống cuộc đời hoang sơ  không khác gì  cha ông của họ thời đi mở đất.  Bất chợt nghĩ về những em bé miền Tây đến trường phải đi qua những cây cầu khỉ lắc lẻo gập ghềnh,  những em gái miền Tây mười tám  xinh tươi bỗng như những con phù du bé nhỏ  vây quanh  những quầng sáng ở chốn phù hoa .

    Đến Rạch Giá đã gần 12 giờ trưa. Gặp chị Phụng, vợ anh Đình tại quán cơm Sáu Minh. Người phụ nữ ấy  chân chất hiền hành ấy, dẫu vất vả cực nhọc trăm bề vẫn còn đôi nét đẹp của một thời con gái. Sau bữa cơm trưa có món canh rong biển tươi thật lạ miệng, chị đưa chúng tôi về nhà của anh chị ở xã Nam Yên, huyện An Biên  bằng chiếc xuồng nhựa composite , người phương Nam gọi là chiếc vỏ lãi. Ở một xứ sở mà kinh rạch sông ngòi chằng chịt, chiếc vỏ lãi  dài gần 6mét   rộng khoảng  0,75 mét này tiện dụng  chẳng khác gì chiếc xe máy trên bờ. Mưa, nên phải mặc áo mưa. Từng người bước xuống, máy nổ,  xuồng chòng chành đôi chút rồi nhẹ nhàng,  uyển chuyển lướt trên sông như một con rắn. Từng nhiều lần ra Cù Lao Chàm trên xuồng cao tốc nhưng  vẫn không khỏi chút ngại ngùng  vì không có áo phao bảo hộ. Chị Phụng cười thật hiền và nói sông cạn lắm, hổng có sao đâu. Nước gần đến nỗi đưa tay ra là với được. Mưa tạt vào mặt. Gió thổi ào ào trên sông. Hai bên bờ dừa nước, tràm, mắm xanh um nghiêng mình theo gió. Thỉnh thoảng thấy một cái chài cá  vãi trên sông óng ánh ánh sáng mặt trời. Thực sự cảm thấy rất thú vị! Mấy chị em Thúy Liễu, Thiệp  …tranh thủ tạo dáng trước ống kính của phó nhòm Đức Thông. Hồng Quang chắc vừa lạnh vừa sợ nên bó gối ngồi co ro. Tiếc là chuyến đi không có “cô nàng sự cố’’ Lưu Bích Ngọc. Càng tiếc hơn vì chị Lệ Chi đã đến tận nơi mà vì bệnh đột xuất phải ngồi lại trên bờ!

       Xuồng xuôi theo sông, sông đổ dần ra biển. Trước mắt chúng tôi là một vùng trời biển thăm thẳm mênh mang. Bầu trời màu lam nhạt. Nước biển  không xanh mà lờ đờ màu phù sa . Không có bờ cát vàng cát trắng mà chỉ toàn bãi  bùn xám xịt, rễ mắm đâm bám vào bùn mà vượt lên, hết lớp này đến lớp khác. Người ta nói cây mắm là cây tiên phong lấn biển. Mắm mọc được rồi, mắm chết đi rồi mới đến lượt đước, tràm …giữ đất cho người. Hòn Tre đã trông thấy thật gần. Xuồng tắt máy, mấy anh thanh niên ngồi nhậu gần đó giúp chúng tôi leo lên cái sàn  y như cái giàn giáo dựng bằng thân cây tràm, đi trên cái sàn ấy qua mấy căn nữa mới tới nhà của anh Đình. Nhà ở đây là nhà lá đơn sơ, còn người thì  ai cũng chung phận nghèo như ai, từ sáng đến chiều đánh bắt tôm cá trên sông trên biển. Có lẽ vì vậy nên chỉ là hàng xóm mà sống thân thiết gần gũi với nhau, nhà nọ cứ chạy qua nhà kia như cùng một nhà .

               Nhóm bảy người chúng tôi  chỉ có chị Huỳnh Thị Thiệp học cùng lớp với anh Đình. Ban đầu anh còn chưa nhận ra chị. Thời gian gần 40 năm qua rồi còn gì. Nhưng có lẽ anh rất cảm động . . Một bàn tay đã bị teo cơ của anh cứ giật giật. Khuôn mặt khắc khổ của anh  lại thoáng hiện  những nét đẹp của thời trai trẻ sáng bừng. Năm năm kể từ khi bệnh tật ập đến, có lẽ đây là lần đầu tiên anh lại có được nụ cười hạnh phúc hồn nhiên .

      Ngôi nhà ân tình mà thầy trò Đông Giang và những bạn bè khác tặng cho gia đình anh Đình cũng  chỉ là một ngôi nhà đơn sơ trên nền ngôi nhà cũ. Mái lợp bằng tôn, vách và sàn bằng gỗ, có phòng khách, phòng ngủ và nhà bếp khá rộng rãi .  . Anh  Việt Bình khóa 8 có gửi đoàn tặng anh một cái đồng hồ treo tường. Anh Đỗ Xuân Khẩn khóa 6 đại diện cho đoàn gửi anh số tiền hơn 20 triệu đồng còn lại  để mua sắm thêm vật dụng trong nhà. Chừng ấy nhưng có lẽ cũng đủ để  một gia đình gồm cả vợ chồng con cái  cảm thấy ấm áp bên nhau ngay cả khi mùa gió về .
      

        Từ biệt gia đình anh chị, chiếc xuồng rẽ nước dần xa, chúng tôi vẫn thấy anh, với một bàn tay còn lại cứ vẫy vẫy. Và chị, đưa chúng tôi lên bờ, quay mặt trở lại xuồng, đưa tay lén gạt nước mắt.

         Đường về An Biên xa ngái, biết đến bao giờ còn gặp lại ?

Hà Thị Lệ Hà K8

By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged

NGÀY MAI LÀ MỘT NGÀY MỚI !

 

Đọc “Cuốn theo chiều gió  ”(Margaret Mitchell ), tôi rất thích  câu nói của nhân vật nữ chính Scarlett O’Hara trong truyện : “Sau tất cả, ngày mai là một ngày mới !”

        Scarlett O’Hara là cô gái xinh đẹp,  nhỏ nhắn nhưng đầy sức mạnh , bằng nghị lực đã tìm mọi cách để  sống sót qua chiến tranh và vượt lên  những thiếu thốn, gian nan của thời hậu chiến .
        Thật kì lạ, trong  những năm tháng khó khăn  của cuộc đời mình, câu nói giản dị  ấy đã luôn vang lên trong lòng tôi, tiếp cho tôi một niềm tin, rằng tất cả những tối tăm, đớn đau,  bất nhẫn rồi sẽ qua đi, và một ngày mai mới mẻ, sáng tươi sẽ đến .
       
        Và quả thật, như một lẽ tự nhiên, bằng cách này hay cách khác, dù sớm hay muộn, ngày mai ấy đã lần lượt đến với mỗi một con người chúng ta .
     
        Gần mươi năm nay, tôi có nhiều dịp trở về lại ngôi trường xưa, dự nhiều cuộc họp mặt ,gặp lại nhiều bạn bè cũ và làm quen thêm nhiều bạn mới. Cuộc bể dâu dữ dội đã làm mọi thứ khác xưa nhưng  tình bạn thuở học trò vẫn thật thân thương, ấm áp.Tình bạn của chúng tôi bây giờ còn đẹp đẽ hơn bởi đã vượt lên những lớp bụi bặm khắc nghiệt của thời gian, lớn lao hơn bởi  không hề hạn hẹp, hễ  là học sinh Đông Giang dù khóa 1, khóa 10 hay khóa 14 …, dù đang ở trong nước hay hải ngoại cũng đều  là bạn của nhau,  thậm chí không chỉ là học sinh Đông Giang mà với cả học sinh Sao Mai, Phan Chu Trinh, Nữ Trung học, Quốc Gia Nghĩa Tử ,…dường như giữa chúng tôi, những con người đã từng cùng đi qua những nỗi bĩ cực của cuộc đời, có một sợi dây vô hình kết nối, một sự đồng cảm  khó nói cho rạch ròi nhưng cũng thật sâu xa.
   

      Vậy đấy, giữa những xô bồ của cuộc sống hiện tại  chúng tôi vẫn thường gặp nhau. Nhắc lại chuyện xưa, bàn về tổ chức một ngày gặp mặt, tập một tiết mục văn nghệ, đi một chuyến dã ngoại, chia sẻ những buồn vui của cuộc sống đời thường…, bao giờ trong những lần gặp nhau cũng là những giây phút bình yên, những nụ cười hân hoan sáng trong như những ngày thơ trẻ . Tự trong lòng tôi, vẫn coi đây là món quà mà Thượng Đế đã một lần nữa hào phóng trao tặng . Được gặp nhau như thế, được nói cười với nhau như thế, chẳng phải là chúng tôi lại được một lần nữa trở về với tuổi học trò thần tiên quý giá  đã đi qua của cuộc đời mình sao!

         Ở một góc nào đó, tôi vẫn thường hay đứng xa một chút mà ngắm nhìn cuộc sống hiện tại những người bạn học của mình. Một số trong họ có thể coi là thành đạt ,phần lớn còn lại  có đời sống không mấy dư dả  nhưng so với  thời bao cấp bữa đói bữa no, một hột gạo cõng mấy lát sắn khoai cũng có cũng có thể tạm gọi bằng lòng. Tôi biết có những người bạn cũ của tôi, đến bây giờ vẫn cố tình tránh những buổi họp lớp gặp mặt bạn bè  vì mặc cảm thua kém. Kỳ thực, dù gì  họ vẫn có một ngôi nhà tử tế, con cái vẫn được học hành. Tôi lại nghĩ : dù sao, cái đêm dài nhất của mỗi đời người trong chúng bạn của tôi cũng đã lần lượt  qua rồi .
            

       Vậy mà sao đêm vẫn chưa qua với  một kiếp người !

     Thực sự, ngay cả khi nhìn thấy những tấm hình rất thực, tôi vẫn không thể tin, năm 2000 đã qua lâu rồi, thế kỷ 21 đầy hứa hẹn đã tới lâu rồi, vẫn còn có  một người bạn Đông Giang phải sống  trong căn nhà lá rách nát tả tơi . 

        Không khó để tưởng tượng hoàn cảnh nào đã đẩy đưa người bạn ấy từ quê hương  Đà Nẵng thân yêu lưu lạc đến tận một làng chài ven biển Kiên Giang cuối miền đất nước.  Không khó để hình dung được bạn đã bươn chải để mưu sinh như thế nào trong những năm  cả nước thiếu đói , khủng hoảng trầm trọng về vật chất và tinh thần.  Những cuộc đời,  những số phận của một thế hệ học trò sau chiến tranh có thể rất giống nhau  mặc dù họ sống rất cách xa nhau. Sự thực, tôi và những người bạn của mình  cũng đã từng sống những năm tháng gian nan như thế . Điểm khác biệt là chúng tôi, cùng với thời gian và sự may mắn đã vượt  qua được bóng tối của sự đói nghèo. Còn bạn , một căn bịnh  nghiệt ngã, quái ác từ năm năm nay đã níu chân bạn lại ! Người vợ tảo tần cũng chỉ có thể kiếm hai bữa cơm đắp đổi qua ngày. Hai đứa con,đứa mười bảy, đứa mười lăm cũng đành phải nghỉ học.

        Bạn tôi còn biết làm gì khi  được người quen đưa cho nhìn những tấm ảnh của những người bạn học ngày xưa. Nói chi, mơ màng chi đến chuyện một ngày được đi họp lớp ,họp trường!

        Những người bạn Đông Giang  đang tính chuyện quyên góp để, nếu có thể được, làm cho bạn một căn nhà, nhỏ thôi _nhưng vững chãi hơn. Đất phương Nam không có nhưng cơn gió rét dai dẳng của xứ Bắc, cũng không hay có  những trận bão kinh hồn của miền Trung, nhưng dù sao cũng cần có một căn nhà có thể gọi là nhà . Để chi vậy,  để người bạn Đông Giang bất hạnh của chúng tôi, mỗi sớm mai thức dậy, không còn cứ phải sống trong một nỗi niềm  tuyệt vọng như sống trong đêm giữa ban ngày ! ! Đã có những tấm lòng của những thầy cô, những người bạn học Đông Giang khắp mọi miền đất nước, cả ở nước ngoài, cả học sinh của trường Sao Mai … đang  hướng về bạn. Những  con chim én nhỏ đang thầm lặng làm nên một mùa xuân. Mong là như vậy, để cuộc đời ngày một đẹp hơn, đáng sống hơn bởi  một chân lý mạnh mẽ  hiển nhiên với bạn, với tôi, với tất cả mọi người  :

 “Sau tất cả, ngày mai là một ngày mới ! ”
      
  Và còn bởi một điều giản đơn này nữa mà Kahlil Gibran    đã nói :

 Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
 Ta có thêm ngày mới để yêu thương.

 
                                                                   SàiGòn 4/6/2014.
                                                                   HÀ THỊ LỆ HÀ

 

182182B172
By Đông Giang-Hoàng Hoa Thám Đà Nẵng Tagged