CHỮ KẺ



Có một ranh giới thiên nhiên cho địa danh chữ “KẺ” không?

Lời nói đầu: Khi liệt kê những địa danh bắt đầu bằng chữ Kẻ, Cổ, Câu,…, chúng tôi theo thứ tự các tỉnh, thành Việt Nam của Tập Bản Đồ Hành Chánh Việt Nam do nhà Xuất Bản Bản Đồ, Xí Nghiệp In số 1, năm 2002, có tỉ lệ 1cm = 6km thực địa. Tính từ Hà Giang (tr 6) đếnThừa Thiên – Huế ( tr 40) tất cả là 31 tỉnh, thành. Mỗi tỉnh, thành, dù ít, dù nhiều, hoặc không có, chúng tôi cũng liệt kê ra để độc giả có thể thấy một cách tổng quát việc phấn bố không đồng đều các địa danh Kẻ, Cổ, Câu đã do một nhu cầu nào đó trong quá khứ chi phối. Các địa danh bắt đầu bằng chữ Kẻ, Cổ, Câu, vốn cố định, nghĩa là không thay đổi vị trí địa lý thiên nhiên, nhưng có thể đã thay đổi theo địa lý hành chánh, tuỳ thuộc vào các biến cố chính trị của từng thời đại lịch sử. Do vậy việc định vị các địa danh ấy không thể tránh khỏi sự trùng lặp hoặc nhầm lẫn từ điạ phương này qua địa phương khác, sau nhiều lần chế độ hành chánh sau, thay đổi ranh giới hành chánh của chế độ trước tại các xã, huyện, tỉnh trên quy mô cả nước. Chúng tôi muốn tìm một sự liên hệ giữa các địa danh ấy để từ đó có thể thấy một sự liên tục, hội tụ, hoặc đứt khoảng, nhảy vọt, hầu xác định được một biên giới thiên nhiên của địa danh chữ Kẻ và các biến âm của nó ( Cổ, Câu). Cũng cần ghi nhận rằng, từ tỉnh Quảng Nam1 vào tới Cà Mau, có lẽ Kẻ đã biến thành Cái , như Cái Bè, Cái Nhum, Cái Mơn… Đây là một vùng địa lý khác, chúng tôi chưa đề cập tới trong bài viết này.[/I]

1. Tổng quát:
Tuy phát âm hầu như giống nhau, nhưng có hai chữ, một đánh dấu hỏi, Kẻ, một đánh dấu ngã, Kẽ.
Theo Bộ Đại Nam Quốc Âm Tự Vị 2 của Paulus Huỳnh Tịnh Của, xếp chữ Kẻ (dấu hỏi) vào loại tiếng nôm với lời giải thích: Kẻ là tiếng chỉ người mà là chỉ trống. Kẻ nào, kẻ nọ, kẻ kia, kẻ khác, kẻ già, kẻ lớn, kẻ trưởng thượng, kẻ khôn ngoan, kẻ học hành, kẻ chợ, kẻ quê, kể qua lại, kẻ qua đàng…
Kẽ (dấu ngã): Chỗ hở, chỗ kẹt, giặm giọt, nói giặm vào, nói chỉ chọc; phân rẽ ra, làm cho có hàng. Chẳng hạn, Kẽ việc (chỉ chọc việc chi), Hay Kẽ (hay chỉ chọc, hay nói vào nói ra), Nói xen kẽ, Làm xen kẽ, Đi xen kẽ, Ở trong kẽ…

Cũng vậy, giáo sư Lê Ngọc Trụ, trong Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị 3 thi cho rằng Kể (dấu hỏi) là tiếng nôm gốc Hán Việt. Kẻ Giả, có nghĩa là người, với các phân biệt:
Chỉ trống, thường dùng sóng đôi với Người: Kẻ cả, Kẻ giàu, Kẻ cắp, Kẻ cướp, Kẻ trộm,
Kẻ thù, Kẻ sang người hèn, Kẻ ở người đi, kẻ nói đơn, người nói kép; kẻ nâng bị, người cắt quai; kẻ ăn rươi, người chịu bão; kẻ khó được vàng, người sang cướp lấy; kẻ tám lạng, người nửa cân; Trong Truyện Kiều: Người quốc sắc, kẻ thiên tài (câu 163), Kẻ nhìn tỏ mặt, người e cúi đầu (câu 322), Họ Chung có kẻ lại nhà (câu 607)…
Trong bài thơ nhan đề Cách Mạng nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã viết:
Lật hết đi,
Thử xoay ngược lại.
Xem thành cái gì?
Cái hèn của kẻ mạnh,
Cái ác của kẻ yếu,
Cái thèm của kẻ thừa,
Cái tham của kẻ thiếu 4

Chỉ nơi, chỗ (địa danh): Kẻ Chợ, Kẻ Sặt, Kẻ Sét, Kẻ Sở…
Thứ kèo ngắn: Đỡ mái nhà từ xà ngang đến cột hiên, nhà to có nhiều kẻ.
Riêng chữ Kẽ (dấu ngã) là tiếng nôm, với 3 phân biệt:
Khe nhỏ, chỗ sơ hở trong ý tứ, kẽ cửa, xen kẽ…
Liền bên cạnh: kẽ nách, kẽ tay, kẽ chân, thấy trời xanh qua kẽ lá…
Tiếng đôi: Cặn kẽ…

2. Một vài phân biệt:
Trước khi nói về chữ Kẻ như một điạ danh, cần phân biệt ý nghĩa chữ Kẻ (dấu hỏi) thuần nôm, thường mang ý khinh chê, coi thường. Chẳng hạn: kẻ cắp, kẻ cướp, kẻ nhỏ mọn, kẻ nhu nhược, kẻ khốn nạn…Và qua ý nghĩa này, nói về chữ Kẻ, học giả Bình Nguyên Lộc đã coi như có một luật phổ quát, khi ông cho rằng: “Một cái luật trong Việt ngữ mà chúng tôi [Bình Nguyên Lộc] đã xướng ra trong cuốn sử (Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam) được xác nhận ở đây (Lột trần Việt Ngữ) một lần nữa:“Khi một danh từ của ta, gốc ngoài, thì luôn luôn nó bị ta cho nó một nghĩa kém cỏi. Kẻ là Người mà ta không trọng”.5
Theo học giả Bình Nguyên Lộc, Kẻ là một từ của người Mông Cổ, gốc ngoài mà người Viêt đã mượn, nghĩa là tự động người Việt đã cho nó một nghĩa kém cỏi. Có lẽ ý của học giả Bình Nguyên Lộc là khi ta dùng những từ như: cu ly (coolie), mã tà (malta), bồi (boy), đầm (madame), gác dan (gardien), có gốc tiếng nước ngoài, thì ít nhiều cũng có nghĩa coi thường khi nói cũng như khi viết ra trong các bản văn.
Nhưng chữ Kẻ được dùng với nghĩa thuần nôm hay Hán nôm, chẳng hạn Kẻ Sĩ, để dịch nghĩa chữ Sĩ Dân, tức chỉ về một người có học, được kính trọng. Chữ Kẻ trong trường hợp này, không thể gọi là người đáng khinh thường. Thi hào Nguyễn Công Trứ đã dùng đầu đề Luận Kẻ Sĩ như một bản tuyên ngôn ca tụng người nam nhi về chí lập thân danh ở đời:
Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,
Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên,
Có giang sơn thì sĩ đã có tên,
Từ Chu Hán vốn sĩ này là quý.

Như vậy, không thể có một cái luật phổ quát trong ngữ học, khi nói chữ Kẻ luôn luôn mang nghĩa là người đáng khinh thường được.
Hoàng Xuân Phương, chuyên viên địa chất, có góp ý về chữ Kẻ với những nhận xét như sau. “Chữ Kẻ vốn dùng nhiều để chỉ định tên đất là sản phẩm văn hoá của dân tộc Việt cho dù nguồn gốc của từ vựng này có thể là du nhập, kế thừa hay biến cải. Bề dày lịch sử bảo đảm tính chất sở hữu văn hoá. Thời gian mà các tập đoàn người Việt sử dụng chữ Kẻ để gọi địa danh, trên thực tế, đã trải qua nhiều trăm năm. Có thể chấp nhận tên Cổ Loa như một mốc thời gian đáng nhớ. Ý nghĩa của chữ Kẻ có vẻ đã không biến đổi từ khi nó không còn được dùng để gọi tên vùng đất mới nữa. Như vậy, có hai phạm trù: a. các địa danh bắt đầu bằng nhóm chữ Kẻ (tên nôm) xuất hiện trước các địa danh tên chữ khác được đặt ra nơi đó. Tính tiên phong của tên gọi là lý do quan trọng để tên đó tồn tại xuyên suốt quá trình phát trển văn hoá. b. Chữ Kẻ mang nghĩa động tác khai hoang, người khai hoang và tổ chức xã hội, vùng đất được khai hoang và tiếp nhận con người đến định cư. Những ý niệm từ chữ Kẻ không tương đồng với lãnh chúa (landlord) mà hầu hết mang ý nghĩa phong tập. Như vậy, chữ Kẻ dùng trong địa danh là một câu trọn nghĩa, nhằm ước định tính sở hữu của một con người hay một nhóm người trên một vùng đất mới do chính họ đến khai phá, định cư và tổ chức xã hội đầu tiên tại đó”.6

3. Chữ Kẻ, giới thiệu nhân sinh, phong thổ, nghề nghiệp:
Chữ Kẻ được dùng trong địa danh thường có nghĩa mạnh về nhân sinh phong thổ, nghề nghiệp của địa phương mang địa danh đó. Vốn trong chữ Kẻ đã sẵn có một nghĩa cụ thể là Người, nên khi gọi Kẻ Mo là người ta muốn thay thế một cụm từ “người làng Yên Mô” (tỉnh Ninh Bình). Trong khi tên chữ mang nghĩa tượng trưng, như Thăng Long, thì Kẻ Chợ, tên nôm mang ý nghĩa đô hội, văn minh. Cũng vậy, Lý Hoà (tên chữ) là một làng ven biển, văn vật, giàu có của tỉnh Quảng Bình, thi Kẻ Lái (tên nôm) nói lên nghề nghiệp chính của dân làng ấy, vì nói đến Kẻ Lái thì ai cũng biết đó là một làng nghề (biển) nổi tiếng từ trước đến nay. Người ta thường ví von:
Thóc Cừ Đà, tù và Kẻ Thố.
Quan Kẻ Mọc, thóc Mễ Trì.

Ếch lươn nổi tiếng Kẻ E,
Tràu cóc Kẻ Đọng, mít chè Bạch Sơn.

Em là con gái Kẻ Mơ,
Em đi bán rượu, tình cờ gặp anh.

Em là con gái Kẻ Đằng,
Bên Tề, bên Sở biết rằng theo ai?

Đồn rằng Kẻ Trọng lắm cau,
Kẻ Cát lắm luá, Kẻ Mau lắm tiền.

Muôn nghìn chớ lấy Kẻ La,
Cái tương thì thối, cái cà thì thâm.

Kẻ Dàu có quán Đình Thanh,
Kẻ Hạc ta có Ba Đình, Ba Voi…

Tóm lại, với những địa danh chữ Kẻ, hầu như gợi cho người chứng kiến một ấn tượng nào đó về con người, phong thổ, nghề nghiệp riêng biệt, độc lập với các nơi khác trong cùng một vùng địa lý lân cận.

4. Chủ nhân chữ Kẻ:
Chữ Kẻ vừa có mặt trong văn chương bác học, vừa có mặt trong văn chương bình dân. Nói cách khác, chữ Kẻ đã có một đời sống, một sự sinh hoạt nhịp nhàng với sự sinh hoạt của xã hội loài người. Nay đặt vấn đề ai là chủ nhân của chữ Kẻ, xem ra hơi thừa, nhưng xét kỹ lại, đối với lịch sử và ngôn ngữ học, chữ Kẻ phải có nguồn gốc, có lai lịch và có thể có cả sự biến hoá để sinh tồn trong chiều dài lịch sử của bộ tộc đã cưu mang nó.

a. Người Mông Cổ? Học giả Bình Nguyên Lộc trong cuốn Lột Trần Việt Ngữ cho rằng chữ Kẻ là một từ của người Mông Cổ mà Việt Nam đã vay mượn trong quá trình phát triển đời sống ngôn ngữ và xã hội. Chữ Kẻ gốc Mông Cổ có nghĩa là người và họ phát âm là Ké (dấu sắc) Cao Miên đọc là Kê (dấu mũ), Việt Nam đọc là Kẻ (dấu hỏi). Ở đây, chúng tôi không nhất thiết chấp nhận hoặc bác bỏ một giả thiết, nhưng nghĩ rằng qua một sự biến âm và cách đọc khác nhau nơi mỗi bộ tộc sử dụng chữ Kẻ thì chưa lấy gì làm chắc chắn lắm để quả quyết chữ Kẻ là của ngưới Mông Cổ mà Việt Nam đã mượn. Đàng khác, giữa Việt Nam và Mông Cổ không có thời gian sống bên nhau lâu dài, cũng không có không gian gần gủi để có thể có sự hổ tương hoán chuyển cho nhau những từ ngữ cần thiết trong quan hệ hằng ngày. Nếu ở Mông Cổ thật sự có chữ Kẻ với nghĩa đen là Người, cả âm và nghĩa giống như chữ Kẻ của người Việt Nam thường dùng, thi có lẽ nó phải qua một trung gian mà chúng ta chưa biết đích thực là ai. Vả lại, vấn đề khi phải qua một trung gian thi chưa chắc ai đã mượn của ai. Bởi vậy, lời quả quyết của học giả Bình Nguyên Lộc nói chữ Kẻ là của người Mông Cổ, có thể chỉ nên coi như một giả thiết trong ngữ học mà thôi.

b. Người Choang? Trong một bài báo đăng ở Tuần San “Vietnam Weekly News” phát hành ở Dallas, Texas, USA, số 262, ngày 6 tháng 5 năm 1995, có nhan đề “Kẻ và Chạ”, học giả Tạ Quốc Tuấn đã đưa ra một giả thiết khác về chữ Kẻ.
Đại lược, ông Tạ Quốc Tuấn cho rằng khi phiên âm chữ Kẻ tiếng nôm thành chữ Hán, người ta phải viết Kẻ thành Cổ ,đôi khi thành Câu.Và Cổ hay Câu lại là phiên âm từ chữ Cái của người Choang. Người Choang xưa vốn gốc người Tây Âu là một trong những chi tộc của Bách Việt mà sử Trung Hoa thường nói tới như Dương Việt, Mân Việt, Nam Việt, Tây Âu, Lạc Việt…Người Choang xuất hiện khoảng thời Xuân Thu – Chiến Quốc khoảng năm 403-221 TCN bên Trung Hoa. Người Tày, một bộ tộc thiểu số ở vùng thượng du Bắc phần ngày nay có cùng nguồn gốc, vì người Choang và người Tày là hậu duệ của người Tây Âu ngày trước.
Để củng cố giả thiết này, ông Tạ Quốc Tuấn đã dẫn một nhận xét của sử gia Từ Tùng Thạch, tác giả bộ “Việt Giang Lưu Vực Nhân Dân Sử” rằng: Người Choang có thói quen đặt chữ Cổ trước một chữ khác để chỉ tên đất (địa danh). Bằng chứng, ngày nay, ở tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây bên Trung Hoa, vốn là địa bàn sinh hoạt xưa của người Choang, người ta còn thấy được các địa danh bắt đầu bằng chữ Cổ. Ở Quảng Đông có Cổ Đô (huyện Nam Hải), Cổ Lâu (huyện Thuận Đức); ở Quảng Tây có Cổ Trúc (huyện Quê Lâm), Cổ Định (huyện Dương Sóc), Cổ Lạc (huyện Nghĩa Ninh), Cổ Luyện ( huyện Liễu Giang), Cổ Đinh (huyện Lạc Dương)…
Cũng vậy, chữ Cổ khi biến âm thành Câu, cũng để lại một số địa danh như núi Câu Khúc, huyện Câu Dung ở tỉnh Giang Tô; núi Câu Vô, núi Câu Du ở tỉnh Chiết Giang. Cũng nên biết rằng hai tỉnh Giang Tô và Chiết Giang là đất của nước Ngô và nước Việt xưa. Nước Ngô còn có tên là Câu Ngô, vua Việt có tên là Câu Tiễn… Khi tìm ý nghĩa của chữ Cổ, chữ Câu, thấy trong Hán Việt Từ Điển7 của học giả Đào Duy Anh, chữ Cổ [ 蠱 ] (23 nét), có một thuật nghĩa khá đặc biệt như sau. “ Người Miêu, người Dao lấy trăm con (100) sâu bỏ vào trong cái chén cho nó ăn thịt nhau, con nào còn sống gọi là Cổ, lấy làm thuốc độc, bỏ cho người hoá mê cuồng”. “Chữ Câu [ 駒 ] (13 nét), có nghĩa là con ngựa 2 tuổi, đương sức mạnh mẽ”. Nếu chữ Kẻ thuần nôm cổ, không mang một ý nghĩa nào về tính phi thường, mạnh mẽ, trổi vượt, chính yếu, thì khi chuyển âm sang chữ Hán, tất sẽ không hàm các thuộc tính ấy. Như vậy, nếu Cổ và Câu là biến âm từ chữ Kẻ thì phải hiểu rằng chữ Kẻ khi được dùng như một địa danh, vẫn mang trọn vẹn các ý nghĩa phi thường, trổi vượt, chính yếu, mạnh mẽ.

Nhưng điều đáng quan tâm ở đây là bộ tộc Dao – Miêu có liên hệ gi với bộ tộc Tày – Việt không? Đây là câu trả lời của giáo sư Nguyễn Đang: “ Sang thời đại đồ đồng và đồ sắt với nền văn hoá Đông Sơn rực rỡ, nghề trồng luá phát triển và trở thành hinh thái kinh tế chủ yếu của các cư dân ở Việt Nam. Chính vi vậy, con người có khả năng định cư ổn định hơn, giao lưu với nhau tiếp xúc chặt chẽ hơn, có cơ sở hợp nhất với nhau thành những cộng đồng to lớn hơn…Vào thời kỳ đó, ở nước ta chí ít cũng đã có mặt tổ tiên những cư dân Việt – Mường, Malayo – Poliêxia, Môn – Khơme (từ một nhóm ở Lào mới sang), một bộ phận của các dân tộc thuộc ngôn ngữ Cơ Lao, Tày – Thái và có thể có cả Tạng – Miến nữa. Tổ tiên người Tày và Việt xây dựng nên nhà nước Âu Lạc”8. Âu Lạc gồm hai thành tố Âu (Tây Âu) và Lạc (Lạc Việt) phản ánh sự liên kết giữa hai bộ tộc Tây Âu và Lạc Việt. Nước Âu Lạc ra đời là do sự liên đới hợp nhất về cư dân và lãnh thổ giữa thời Hùng Vương chuyển qua An Dương Vương Thục Phán. Về mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội cũng tiếp tục bổ sung thành quả của nước Văn Lang mà nền văn minh Đông Sơn cũng là một phần thành tựu của nền văn minh Âu Lạc đóng góp vào. Bởi vậy, muốn tìm một công trình kién trúc tiêu biểu cho nền văn minh Âu Lạc xưa, không thể không nói đến kinh thành Cổ Loa, mà chủ nhân chắc chắn là của Âu Lạc.

c. Âu Lạc – Cổ Loa: Nếu cần tìm niên đại khai sinh và sử dụng chữ Kẻ như một địa danh, có lẽ không có bằng chứng nào rõ ràng hơn là tìm lại dấu tích Cổ Loa, tức cái Loa Thành của Âu Lạc đời Thục Phán (khoảng năm 208 TCN). Cổ Loa nằm ở vùng đồng bằng giáp trung du của lưu vực sông Hồng trên bờ bắc Hoàng Giang. Ngày nay, dấu tích Cổ Loa tìm thấy ở Phong Khê, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội. Kiến trúc Cổ Loa gồm 3 vòng thành khép kín, nên dân chúng quen gọi là Thành Nội, Thành Trung, Thành Ngoại, tựa như cái loa có 3 vòng tròn đồng tâm từ nhỏ tới lớn. Cổ Loa là kinh đô của Âu Lạc từ thời Thục Phán An Dương Vương.
Cổ Loa có tên nôm là Chạ Chủ, nên soạn giả Lê Trắc [cũng gọi lá Lê Tắc] (thế kỷ XlV) trong cuốn An Nam Chí Lược gọi là thành Khả Lũ .Người Lạc Việt xưa phát âm là K’lũ hay Kh’lũ rồi đọc trại ra Khả Lũ, rồi Khả Lũ biến âm thành Cổ Loa? Truyền thuyết dân gian kể rằng khi xây xong thành Cổ Loa, An Dương Vương đã dời dân Chạ chung quanh thành Cổ Loa xuống bãi đất cuối sông Hoàng, cho khai phá đất hoang, hình thành nhiều làng mới, có tên là Quậy Cả, Quậy Con, Quậy Rào (thuộc xã Liên Hà, Đông Anh, Hà Nội) mà ngày nay còn được nhắc lại trong câu nói: Quậy ủ, chủ tươi; Quậy cười, chủ khóc.9Tóm lại, Âu Lạc xưa đã là chủ nhân của chữ Kẻ (Cổ) bên cạnh chữ Kẻ (Cổ) của người Choang -Tày khi cả hai bộ tộc Tây Âu và Lạc Việt kết hợp thành một nước Âu Lạc, có kinh đô là Cổ Loa.

5. Sự phân bố các địa danh Kẻ, Cổ, Câu:
Trong nhóm tập hợp những chữ Kẻ, Cổ, Câu…rồi Ban, Bản, Buôn…chúng ta thấy rõ tính
định cư và du cư của các bộ tộc trên bán đảo Đông Dương. Cho đến gần đây, các địa danh của nhóm chữ trước (Kẻ, Cổ, Câu) vẫn tồn tại y nguyên nơi địa danh ấy khai sinh, cho dù hậu duệ của các chủ nhân ban đầu nay không còn. Riêng các địa danh của nhóm sau (Ban, Bản, Buôn) di chuyển theo từng bộ tộc du cư và dễ dàng biến mất trên thực tế địa lý.
Đàng khác, khi tiếp cận những nơi có nhiều bộ tộc định cư xen kẽ, chúng ta thấy chủ nhân văn hoá của chữ Kẻ rõ hơn, khi biết tập quán của các bộ tộc miền núi, bộ tộc Chăm, bộ tộc Khơme và cả người Hoa, họ không dùng nhóm địa danh chữ Kẻ, Cổ, Câu để gọi tên đất nơi họ sinh sống. Bởi vậy có thể nói, khi chữ Kẻ đã mang tính văn hoá dân tộc, thì việc định cư ở đâu, di cư đến chỗ nào, dân tộc Việt cũng phát tán các địa danh của họ, cho dù phải gọi theo một kiểu đặc thù nào đó như Cái, Cả, Ngả…ở đồng bằng Miền Nam Việt Nam. Như vậy, vấn đề cần đặt ra là: Ở đâu có thể xác định ranh giới thiên nhiên địa danh chữ Kẻ (Cổ, Câu) trên bản đồ địa lý Nam Tiến của Việt Nam ?

A. Địa bàn các địa danh Kẻ, Cổ, Câu… hiện nay :
1. Hà Giang, giữa Cao Bằng phía đông bắc, Lao Cai ở phía phía tây nam, Thị xã Hà Giang. Hà Giang không có địa danh nào bằng chữ Kẻ, Cổ, Câu.
2. Cao Bằng, bắc giáp Trung Hoa, nam giáp Bắc Cạn. Thị xã Cao Bằng. Cao Bằng có Cổ Châu (cửa ải), Cổ Đam (tên xã), Cổ Lạc (tên xã), Cổ Lân (đồn quân, xưa gọi là bảo), Cổ Phương (tên xã), Cổ Vũ (tên xã)…
3. Lai Châu, đông giáp Lao Cai, tây giáp Ai Lao. Thi xã là Điện Biên Phủ, thị xã Lai Châu. Lai Châu có địa danh Kẻ Cải.
4. Lào Cai, tây giáp Lai Châu, đông giáp Hà Giang. Thị xã Lao Cai, thị xã Cam Đường. Lào Cai không có địa danh nào nào bằng chữ Kẻ, Cổ, Câu.
5. Yên Bái, bắc giáp Hà Giang, tây nam giáo Sơn La. Thành phố Yên Bải, Thị xã Nghĩa Lộ. Yên Bái có địa danh Cổ Phúc.
6. Tuyên Quang, tây giáp Yên Bái, đông giáp Băc Cạn. Thị xã Tuyên Quang. Tuyên Quang không có địa danh nào bằng chữ Kẻ, Cổ, Câu.
7. Bắc Cạn, bắc giáp Cao Bằng, nam giáp Thái Nguyên. Thị xã Bắc Cạn. Bắc cạn không có địa danh nào bằng chữ Kẻ, Cổ, Câu.
8. Thái Nguyên, bắc giáp Bắc Cạn, nam giáp Bắc Giang. Thành phố Thái Nguyên,thị xã Sông Công. Thái Nguyên có Cổ Lân (tên núi), Cổ Lũng, Cổ Lương (tên xã)
9. Lạng Sơn, tây giáp Bắc Cạn, đông giáp Trung Hoa. Thị xã Lạng Sơn. Lạng Sơn không có địa danh nào bằng chữ Kẻ, Cổ, Câu.
10. Sơn La, tây giáp Lai Châu, đông giáp Phú Thọ. Thị xã Sơn La. Sơn La có Kẻ Thầy, Kẻ Thiếc, Kẻ Thốn… ,Cổ Đô (Quảng Oai), Câu Lậu, Câu Lữ (núi)…
11. Phú Thọ, tây giáp Yên Bái – Sơn La, đông giáp Tuyên Quang. Thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ. Phú Thọ không có địa danh nào bằng chữ Kẻ, Cổ, Câu.
12. Vĩnh Phúc, bắc giáp Thái Nguyên, nam giáp Hà Tây. Thị xã Vĩnh Yên. Vĩnh Phúc có một địa danh Kẻ Rẩy…
13. Thành Phố Hà Nội có Kẻ Bạc, Kẻ Chợ, (Chung quanh Kẻ Chợ, các giáo sĩ truyền giáo sau thời Alexandre De Rhodes, tức sau năm 1627, đã đặt tên các giáo phận khác, bên ngoài Kẻ Chợ là Kẻ Bắc, Kẻ Nam, Kẻ Đông, Kẻ Tây); Kẻ Chuôn, Kẻ Đô, Kẻ Mộc, Kẻ Sài, Kẻ Sở, Kẻ Trình, Kẻ Vạc, Kẻ Vẽ, Kẻ Vĩnh, Kẻ Vồi…, Cổ Bi, Cổ Dương, Cổ Điền, Cổn Loa, Cổ Ngư, Cổ Nhuế…
14. Bắc Ninh, bắc giáp Bắc Giang, nam giáp Hưng Yên. Thị xã Bắc Ninh. Bắc Ninh có Kẻ Bái, Kẻ Bôn, Kẻ Cốc, Kẻ Đàm, Kẻ Đóm, Kẻ La, Kẻ Mo, Kẻ Mốt, Kẻ Nưa, Kẻ Roi…, Cổ Bi (Gia Lâm), Cổ Dũng, Cổ Lãm, Cổ Loa (giếng), Cổ Mễ, Cổ Pháp, Cổ Thiết…
15. Bắc Giang, bắc giáp Lạng Sơn, nam giáp Hải Dương. Thị xã Bắc Giang. Bắc Giang có Kẻ Bạc, Kẻ Vạc, Kẻ Ván…
16. Quảng Ninh, bắc giáp Trung Hoa, nam giáp vịnh Hạ Long. Thành phố Hạ Long. Quảng Ninh có Cổ Bồng (tên núi), Cổ Rồng (tên khe), Cổ Sâm (tên động)…
17. Hải Phòng, tây giáp Hải Dương, nam giáp biển Đông. Thành phố Hải Phòng. Hải Phòng có Kẻ Cốc (giáo xứ Trung Nghĩa), Cổ Am, Cổ Ngựa, Cổ Trai…
18. Hải Dương, tây giáp Bắc Ninh, đông giáp Hải Phòng. Thành phố Hải Dương. Hải Dương có Kẻ Chằm, Kẻ Mốt, Kẻ Nam (Sơn Nam), Kẻ Né, Kẻ Rương, Kẻ Sặt…, Cổ Bi, Cổ Châu, Cổ Dũng, Cổ Mệnh, Cổ Thành (Chí Linh), Cổ Vịt…
19. Hưng Yên, tây giáp Hà Tây, đông giáp Hải Dương. Thị xã Hưng Yên. Hưng Yên có Kẻ Nôi, Kẻ Sắt, Kẻ Vân, Kẻ Xuôi, Cổ Lôi…, Cổ Miệt, Cổ Nông, Cổ Tiết, Cổ Tích…
20. Hà Tây, bắc giáp Vĩnh Phúc, nam giáp Hà Nam. Thị xã Hà Đông, thị xã Sơn Tây. Hà Tây có Kẻ Bào, Bẻ Bún, Kẻ Máy, Kẻ Nủa, Kẻ Thiếc…Cổ Đô, Cổ Đông, Cổ Lâu, Cổ Lữ (tên núi), Cổ Nông, Cổ Sở…
21. Hoà Bình, bắc giáp Phú Thọ, nam giáp Thanh Hoá. Thị xã Hoà Bình. Hoà Bình có Kẻ Rẩy…, Cổ Nghĩa, Cổ Thành…
22. Hà Nam, bắc giáp Hà Tây, nam giáp Nam Định. Thị xã Phủ Lý. Hà Nam có Kẻ Bói, Kẻ Non, Kẻ Sông, Kẻ Sở…,Cổ Động…
23. Nam Định, tây giáp Ninh Bình, dông giáp Thái Bình. Thành phố Nam Định. Nam Định có Kẻ Báng, Kẻ Bằng, Kẻ Bổn, Kẻ Chữ, Kẻ Diền, Kẻ Kiều, Kẻ Mèn, Kẻ Non, Kẻ Sở, Kẻ Thố, Kẻ Trình, Kẻ Vĩnh…, Cổ Lễ, Cổ Lộng, Cổ Trạch…
24. Thái Bình, bác giáp Hải Dương, nam giáp Nam Định. Thị xã Thái Bình. Thái Bình có Kẻ Bặt, Kẻ Bầu, Kẻ Cát, Kẻ Dàu, Kẻ Điền, Kẻ Hạc, Kẻ Hệ, Kẻ Lương, Kẻ Mau, Kẻ Mốt, Kẻ Ón, Kẻ Rèm, Kẻ Rí, Kẻ Riền, Kẻ Si, Kẻ Thế, Kẻ Trọng…, Cổ Khúc, Cổ Linh, Cổ Mễ, Cổ Quan, Cổ Việt…
25. Ninh Bình, bắc giáp Hà Nam, nam giáp Thanh Hoá. Thị xã Ninh Bình. Ninh Bình có Kẻ Bôn, Kẻ Bùi, Kẻ Cốc, Kẻ Dàu, Kẻ Đằng, Kẻ Đầm, Kẻ La, Kẻ Mẹc, Kẻ Mo, Kẻ Mọc, Kẻ Mốt, Kẻ Mơ, Kẻ Nưa, Kẻ Rẩy, Kẻ Roi, Kẻ Thố…, Cổ Loan, Cổ Lễ, Cổ Mễ, Cổ Pháp…
26. Thanh Hoá, tây giáp Ai Lao, đông giáp biển Đông. Thành phố Thanh Hoá, Thị xã Bím Sơn, Thị xã Sầm Sơn. Thanh Hoá có Kẻ Bảo, Kẻ Bạng, Kẻ Bền, Kẻ Doanh, Kẻ Đam (Kẻ Đầm),
Kẻ Láng, Kẻ Man, Kẻ Náp, Kẻ Nưa, Kẻ Ràng, Kẻ Rĩ, Kẻ Rừa, Kẻ Sét, Kẻ Trần, Kẻ Văn, Kẻ Vân…,Cổ Bi, Cổ Bền, Cổ Biên, Cổ Bình, Cổ Bôn, Cổ Châu, Cổ Diệp, Cổ Đằng, Cổ Độ, Cổ Hoành, Cổ Lôi, Cổ Lộng, Cổ Trai… 27. Nghệ An, tây giáp Ai Lao, đông giáp biển Đông. Thành phố Vinh. Nghệ An có Kẻ Bua, Kẻ Cường, Kẻ Dinh, Kẻ Đông, Kẻ Dừa, Kẻ Gai, Kẻ Gốm, Kẻ Lách, Kẻ Lâm, Kẻ Lò (Cửa Lò), Kẻ Mắt, Kẻ Nại, Kẻ Ngo, Kẻ Quát, Kẻ Sừa, Kẻ Tùng, Kẻ Trầu, Kẻ Vạng, Kẻ Vĩnh (tp Vinh)…, Cổ Lãm, Cổ Văn…
28. Hà Tĩnh, bắc giáp Nghệ An, nam giáp Quảng Bình. Thị xã Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh. Hà Tĩnh có Kẻ Cường, Kẻ Dinh, Kẻ Đà, Kẻ Đọng, Kẻ Đông, Kẻ E, Kẻ Gỗ, Kẻ Gốm, Kẻ Mắt, Kẻ Mui, Kẻ Nhím, Kẻ Sét, Kẻ Trúa, Kẻ Vang…, Cổ Đam…
29. Quảng Bình, tây giáp Ai lao, đông giáp biển Đông. Thành phố Đồng Hới. Quảng Bình có 5 huyện, mỗi huyện lại có nhiều địa danh Kẻ, Cổ, Câu, do đó chúng tôi xếp thứ tự theo địa danh hành chánh, bắt đầu từ huyện Tuyên Hoá vào tới huyện Lệ Thủy.
a. Tuyên Hoá có Kẻ Má, Kẻ Rục, Kẻ Sạt, Kẻ Trìm…, Cổ Liêm…
b. Quảng Trạch có Kẻ Biểu, Kẻ Càng, Kẻ Câu, Kẻ Chuông, Kẻ Đại (Long Đại), Kẻ Đáy, Kẻ Gián, Kẻ Lai (Cường Gián), Kẻ Ròn, Kẻ Tiếu, Kẻ Xã (Cảnh Dương)…, Cổ Cảng…
c. Bố Trạch có Kẻ Bàng (Liên Phương Trung), Kẻ Bồ, Kẻ Câu, Kẻ Cồn, Kẻ Chao, Kẻ Chung, Kẻ Đòi, Kẻ Đờng, Kẻ Hạ, Kẻ Hạc, Kẻ Hạt, Kẻ Lái (Lý Hoà), Kẻ Lau, Kẻ Náu, Kẻ Nầm (Cự Nậm), Kẻ Nô, Kẻ Ngạn, Kẻ Nghen, Kẻ Rây, Kẻ Sen, Kẻ Thạng (Cao Lao Thượng), Kẻ Sô, Kẻ Vực…, Cổ Giang…d. Huyện Quảng Ninh có Kẻ Bói, Kẻ Rây, Kẻ Rồng, Kẻ Thá, Kẻ Tràng, Kẻ Trìa, Kẻ Thẹc…, Cổ Hiền.
e. Lệ Thuỷ có Kẻ Châu (Châu Xá), Kẻ Cung (Phò Chánh), Kẻ Cưỡi (Mỹ Duyệt Hạ), Kẻ Đa (Mỹ Duyệt), Kẻ Đợi (Đại Phong), Kẻ Lê, Kẻ Nồi, Kẻ Thá (An Xá), Kẻ Trạm, Kẻ Tuy (Tuy Lộc)…, Cổ Liễu (Chợ Tréo)…
30. Quảng Trị, tây giáp Ai Lao, đông giáp biển Đông. Quảng Trị có Kẻ Bố (Bố Liêu), Kẻ Diên (Diên Sanh), Kẻ Giáo (Giáo Liêm), Kẻ Nghĩa (Hoan Thịnh), Kẻ Văn…,Cổ Bối, Cổ Lũy, Cổ Thành, Cổ Trai, Cổ Vưu (Trí Bưu)…, Câu Hoan, Câu Nhi…
31.Thừa Thiên – Huế, Tỉnh – Thành cuối của địa danh chữ Kẻ, Cổ. Có Kẻ Diên, Kẻ Huế *(Thuận Hoá) , Kẻ Lừ (Niêm Phò) Kẻ Vạn (Vạn Xuân), Cổ Bi, Cổ Bưu, Cổ Nông, Cổ Tháp (Hương Điền)…

B. Mật độ của các địa danh Kẻ, Cổ Câu:
Chúng tôi chỉ liệt kê một số địa danh chữ Kẻ (Cổ, Câu) để chứng minh rằng chủ nhân của những địa danh ấy là bộ tộc Việt và đồng thời cũng có thể thấy được một ranh giới thiên nhiên ước định của chữ Kẻ trên đường Nam Tiến của dân tộc Việt Nam. Nhưng căn cứ trên bảng liệt kê đã thực hiện, chúng tôi thấy sự phân bố địa danh chữ Kẻ (Cổ, Câu) mỗi nơi một khác, nhất là mật độ có sự gia tăng rõ ràng từ Thành phố Hà Nội (Cổ Loa xưa) vào tới Thừa Thiên – Huế. Đặc biệt, vùng đất phía nam Đèo Ngang (Hoành Sơn) tức tỉnh Quảng Bình, mật độ địa danh chữ Kẻ (Cổ, Câu) đã có hiện tượng gia tăng rất đáng kể.
Lấy mốc thời gian là năm 1553 của Ô Châu Cận Lục 10 ra đời dưới triều Mạc Phúc Nguyên (1546-1561), hai địa bàn Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế, tính tổng số địa danh Kẻ (Cổ, Câu) từ trước đến nay hầu như không thay đổi, nghĩa là Quảng Trị có tỉ lệ 7/173 và Thừa Thiên – Huế có tỉ lệ 8/110 trên tổng số địa danh hành chánh. Riêng tỉnh Quảng Bình, theo nhà giáo Lương Duy Tâm, khi xuất bản cuốn Địa Lý Quảng Bình (Lecon de Géographie du Quang Binh)11 năm 1937, đã cho biết tỉ lệ địa danh chữ Kẻ (Cổ, Câu) là 61/376.

Phải chăng sự phân bố không đồng đều các địa danh Kẻ (Cổ, Câu) trên địa bàn sinh hoạt của bộ tộc Việt ngày xưa được hiểu như một hình thái văn hoá có tính khai phóng, tự trị. Họ làm chủ tất cả, sở hữu tất cả những gì họ tạo ra, kể cả vật thể và phi vật thể, không lệ thuộc ai, không bắt chước một khuôn mẫu nào đó, dù đã có trước khi họ đến.
Việc các địa danh Kẻ, Cổ, Câu đột ngột dừng lại trên địa bàn Thừa Thiên – Huế, không rõ do một động lực nào. Nhưng cho dù là tình cờ đi chăng nữa, thì một đường thẳng từ Cổ Loa (Hà Nội) đến Kẻ Vạn (Huế) cũng cho chúng ta biết địa danh chữ Kẻ (Cổ, Câu) thật sự đã có những bước Nam Tiến rõ ràng. Đó là chưa nói đến việc chọn Cổ Loa làm trọng điểm cho những vòng tròn đồng tâm, thì trên những vòng tròn đồng tâm, từ nhỏ đến lớn nhất, các địa danh Kẻ, Cổ, Câu đã thực sự vừa lan xa, vừa toả rộng, kể cả các địa danh ở tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây bên Trung Hoa và cả khu tự trị của người Choang ở phía bắc tỉnh Quảng Tây ngày nay.
Sau cùng, mức độ đậm nhạt, đan xen cũng là một tín hiệu khác của nền văn hoá bản địa. Có những trung tâm sử dụng chữ này nhiều hơn chữ kia. Chẳng hạn chữ Kẻ được dùng nhiều nhất ở Quảng Bình, có thể có ý nghĩa khác với chữ Cổ và Câu được dùng ở Quảng Trị? Chúng tôi nghĩ đây là một lãnh vực khá lý thú cho những ai có công nghiên cứu về địa danh, trên qui mô lịch sử ngôn ngữ Việt Nam.

Grand Prairie, Texas, Mùa Thu, 2010
Hoàng Đình Hiếu

Chú thích:
1. Quảng Nam, Tại Quảng Nam có một tên gọi chung cho cả tỉnh, thời các giáo sĩ Tây phương vừa đến giảng đạo như Cristoforo Borri (1618) Francois De Pina (1621), sau là Alexandre De Rhodes (1640), đó là CECIAM, khi các ngài chưa biết viết theo lối cách ngữ trong phép đơn âm của tiếng Việt. Về sau, khi đã học được cách viết cách ngữ (viết rời ra), thì các giáo sĩ đã phiên âm thành KE CHAM, hay KE CHIEM. Từ đó, các giáo sĩ đã biết viết rõ là Kẻ Chăm hay Kẻ Chiêm (có bỏ dấu). Do đó Kẻ Chăm hay Kẻ Chiêm đôi khi được các giáo sĩ gọi thay cho từ Quảng Nam.
2. Huình Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị , Văn Hữu xuất bản, Gia Định, Việt Nam, 1974.
3. Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị, Sàigòn, 1960.
4. Nguyễn Đình Thi, Trong Cát Bụi, Nxb Văn Học, Tp HCM, 1992, tr 8.
5. Bình Nguyên Lộc, Lột Trần Việt Ngữ, Nxb Xuân Thu, Los Alamitos, California, USA. 1990, tr 166.
6. Hoàng Xuân Phương, Địa Danh Biến Âm từ chữ Kẻ ở Nam Phần Việt Nam trong Quê Hương Bọ Mạ,
Tuyển Tập l, Grand Prairie, Texas, 1994, tt 87- 90.
7. Đào Duy Anh, Hán Việt Từ Điển, Trường Thi xuất bản, in lần thứ ba, Sàigòn, 1957.
8. Nguyễn Đang, Việt Nam, Đất Nước, Lịch Sử, Văn Hoá (nhiều tác giả), Nxb Sự Thật, Thành phố HCM, 1991, tt 66-68.
9. Cổ Loa, Lịch Sử Việt Nam, Tập l, Nxb Đại Học và Giáo Dục Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1991, phần chú thích, Quậy là vùng đất trũng. Chủ là vùng đất cao, nên mỗi khi mưa to, vùng Quậy ngập nước thì vùng Chủ được mùa, trái lại khi vùng Quậy được mùa thì vùng Chủ bị hạn hán. Do đó mới có câu Quậy ủ Chủ tươi, Quậy cười Chủ khóc. Dân làng Quậy là cư dân bản địa vùng Cổ Loa, nên trong ngày hội đền vua Thục, được về dự và được các làng khác kính trọng mời dân làng Quậy ngồi ở chiếu trên. tr 133.

  1. Dương Văn An, Ô Châu Cận Lục, Bùi Lương phiên dịch, Văn Hoá Á Châu xuất bản, Sàigòn, 1961, tt 31- 40.
  2. Lương Duy Tâm, Lecon de Géographie du Quảng Binh, Đồng Hới, Quảng Bình, Việt Nam, 1937 (dẫn theo Nguyễn Thế Hùng từ bài Tên Đất, trong Tập San Quảng Bình Quê Tôi, Sàigòn, 1971).

One comment on “CHỮ KẺ

  1. Đọc bài chữ KẺ của Thầy, chúng tôi nhớ lại hình ảnh của Thầy hồi dạy văn cho chúng tôi những năm 70, 71, mỗi lần bình giảng một bài thơ Thầy đi lên đi xuống đọc cho chúng tôi chép mà không có một quyển sách hay 1 tài liệu ghi chép nào, Thầy như đã học thuộc tự bao giờ, trong lớp chúng tôi ai cũng đều kính nể, những bài bình giảng của Thầy chúng tôi có cảm tưởng không thừa một chữ không thiếu một câu… Thầy giúp chúng tôi thích học văn, những bài Luận Kẻ Sĩ :Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên,Có giang sơn thì sĩ đã có tên,Từ Chu Hán vốn sĩ này là quý… Và nhiều bài khác như Đôi Bờ, Đôi mắt người Sơn Tây của Quang Dũng , Nhớ rừng của Thế Lữ…trong lớp đứa nào cũng thuộc, và mới đây trong buổi họp mặt lớp anh Huỳnh văn Thanh xin ngâm bài thơ Đôi Mắt Người Sơn Tây để nhớ về người Thầy của lớp – Thầy Hoáng Đình Hiếu-

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s